“Tránh tình trạng 5 tỉnh trong vùng cùng xin làm sân bay quốc tế”
(Dân trí) - Đại biểu Phạm Trọng Nhân góp ý thiết chế Hội đồng Điều phối vùng quốc gia cần được luật hóa để điều phối hạ tầng vùng, thống nhất ưu tiên đầu tư, tránh 5 tỉnh trong vùng cùng xin làm sân bay quốc tế.
Việc phân vùng kinh tế - xã hội, định hướng phát triển và liên kết vùng là một trong những nội dung quan trọng trong dự thảo tờ trình về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Trình ra Quốc hội, Chính phủ tiếp tục đề xuất tổ chức không gian phát triển đất nước thành 6 vùng kinh tế - xã hội, gồm: vùng Trung du và miền núi phía Bắc; vùng Đồng bằng sông Hồng; vùng Bắc Trung Bộ; vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; vùng Đông Nam Bộ; vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Cơ hội thiết kế lại không gian phát triển
Đại biểu Phạm Trọng Nhân (TPHCM) cho rằng khi chúng ta quyết định giảm từ 63 xuống 34 tỉnh, tổ chức lại chính quyền theo mô hình 2 cấp, đó không chỉ là việc kẻ lại đường ranh hành chính, mà là cơ hội thiết kế lại không gian phát triển.

Đại biểu Quốc hội Phạm Trọng Nhân (Ảnh: Hồng Phong).
Trong bối cảnh ấy, Quy hoạch tổng thể quốc gia không thể chỉ điều chỉnh cho khớp bản đồ mới, mà phải trả lời được câu hỏi: những cực tăng trưởng nào sẽ kéo cả nền kinh tế lên mức hai con số?
Bản đồ 34 tỉnh, thành của cả nước sau hợp nhất, theo đại biểu, thực chất là bản đồ năng suất, không phải bản đồ địa giới. Vì thế, tiêu chí không thể dựa vào địa giới hành chính, mà phải dựa trên năng lực công nghiệp - dịch vụ, hàm lượng công nghệ, kết nối hạ tầng - logistics, mật độ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, tỷ trọng kinh tế số và năng suất lao động.
Cùng với đó, đại biểu TPHCM cho rằng thiết chế Hội đồng Điều phối vùng quốc gia phải được luật hóa, Thủ tướng có quyền điều phối hạ tầng vùng, chia sẻ và bắt buộc dùng chung dữ liệu, thống nhất danh mục ưu tiên đầu tư vùng.
Quy định này, theo ông Nhân, để tránh tình trạng 5 tỉnh cùng xin làm cảng trung chuyển, sân bay quốc tế mà không dựa trên mô hình năng suất và hiệu quả vùng.
Bên cạnh đó, theo vị đại biểu, việc điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia phải ăn khớp với mô hình 34 tỉnh, thành và 2 cấp chính quyền, nghĩa là các tỉnh mới sau sáp nhập phải được thiết kế lại cấu trúc đô thị - nông thôn - công nghiệp - dịch vụ dựa trên dữ liệu dân cư, năng suất, rủi ro khí hậu; không thể chỉ “ghép hai quy hoạch cũ lại với nhau” và xem như hoàn thành, như vùng TPHCM rất cần quy hoạch và cơ chế cho một siêu đô thị động lực trung tâm.
“Quy hoạch tổng thể quốc gia không phải bản đồ địa lý, mà là bản đồ năng suất của quốc gia. Nếu không thay đổi cách nhìn này, việc nói về mục tiêu tăng trưởng hai con số và thoát bẫy thu nhập trung bình sẽ rất khó thuyết phục”, ông Nhân nhấn mạnh.

Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động ở Ninh Bình (Ảnh: Long Ho).
Nhận định việc phân vùng kinh tế - xã hội, định hướng phát triển và liên kết vùng là nội dung đặc biệt quan trọng để thiết kế không gian phát triển và phân bổ nguồn lực quốc gia, đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng (Cần Thơ) đề nghị bổ sung cơ chế điều phối và liên kết vùng.
Đặc biệt, ông Hùng nhấn mạnh cần quan tâm việc kết nối, liên kết giữa các vùng, tạo không gian để các địa phương trong vùng và giữa các vùng với nhau có được sự hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, tránh mâu thuẫn, trùng lắp, phát huy tốt sức mạnh tổng hợp của vùng.
Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải
Đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) thống nhất giữ nguyên 6 vùng kinh tế - xã hội như Chính phủ trình, song ông góp ý nhiều nội dung quy hoạch với vùng ĐBSCL.
Ghi nhận hạ tầng kinh tế - xã hội của vùng đã được tập trung nhiều hơn song theo ông Hòa, “vẫn chưa xứng tầm với hơn 20 triệu dân”.
“Không có vùng nào có số dân đông như vùng ĐBSCL nhưng hưởng lợi về mặt kinh tế - xã hội vẫn còn nhiều mặt hạn chế”, ông Hòa đánh giá và đề nghị điều chỉnh hạ tầng kinh tế - xã hội của vùng này phát triển xứng tầm, để ĐBSCL trở thành nơi dự trữ chiến lược về an ninh lương thực quốc gia.

Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa (Ảnh: Hồng Phong).
Một vấn đề khác được ông Hòa chỉ ra, là vùng Đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc rất lớn vào mô hình phát triển nông nghiệp và thủy sản. Ngoài Cần Thơ, 4 tỉnh còn lại trong vùng (gồm Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau), phát triển thủy sản và nông nghiệp là chủ yếu, tăng trưởng vẫn còn thấp.
Cùng với đó là rất nhiều thách thức liên quan đến biến đổi khí hậu, sạt lở, xâm nhập mặn… Vì thế, ông Hòa đề nghị trong điều chỉnh quy hoạch cần quan tâm tới hồ, đập chứa nước, đập ngăn mặn của vùng ĐBSCL.
Với lợi thế sông nước, ông Hòa băn khoăn khi vùng ĐBSCL ít được quan tâm phát triển đường thủy nội địa.
Trong quy hoạch sắp tới, ông cho rằng cần chú trọng phát triển đường thủy nội địa, đặc biệt là đường thủy nối liền Bắc - Nam, ví dụ từ An Giang tới Quảng Ninh hoặc từ An Giang tới Hải Phòng, để xây dựng tuyến đường biển đảm bảo hạn chế chi phí đi lại, tăng giá trị logistics.
Đây cũng là yếu tố tạo nên sự liên kết, gắn kết hài hòa giữa các vùng và tạo động lực phát triển tốt hơn cho từng vùng, theo lời ông Hòa.
Đại biểu Nguyễn Hữu Thông (Lâm Đồng) góp ý vào định hướng phát triển vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên được xác định là không gian phát triển liên hoàn từ Đà Nẵng đến Lâm Đồng với chiều dài bờ biển khoảng 1.000km, có vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Hữu Thông (Ảnh: Hồng Phong).
Thực tiễn cho thấy, tại khu vực này đã hình thành và phát triển nhiều khu kinh tế ven biển có vai trò động lực đối với tăng trưởng của vùng cũng như từng địa phương.
Cùng với đó, nhiều tỉnh trong khu vực này cũng có nhiều tiềm năng, lợi thế để tiếp tục hình thành và phát triển các khu kinh tế ven biển như tỉnh Lâm Đồng, Gia Lai hay Đắk Lắk.
Vậy nhưng trong định hướng phát triển vùng của dự thảo nghị quyết, theo ông Thông, chưa thể hiện rõ chủ trương hình thành và phát triển khu kinh tế ven biển.
Vì thế, trong quá trình tổ chức thực hiện ở các địa phương sẽ gặp khó khăn, nhất là khi triển khai các dự án quy mô lớn mang tính liên vùng, liên ngành, các dự án hạ tầng chiến lược, công nghiệp ven biển và dịch vụ cảng biển. Do đó, ông đề nghị bổ sung nội dung này vào nghị quyết điều chỉnh quy hoạch quốc gia.
Bộ trưởng Tài chính Nguyễn Văn Thắng cho biết trong 6 vùng kinh tế - xã hội, Quy hoạch tổng thể quốc gia đã xác định vai trò của vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là các vùng có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất, tạo động lực tăng trưởng lớn nhất của cả nước.
Trên cơ sở đó, các vùng này đã được định hướng tập trung nguồn lực để phát triển kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư cũng như phát triển các ngành, lĩnh vực trình độ cao.

Bộ trưởng Tài chính Nguyễn Văn Thắng (Ảnh: Hồng Phong).
Bên cạnh định hướng đầu tư cho các vùng động lực, Bộ trưởng nhấn mạnh quy hoạch cũng quan tâm đầu tư cho các vùng khó khăn và đề ra nhiều giải pháp đối với khu vực này, như xây dựng cơ chế chính sách đặc thù; chăm lo phát triển về văn hóa, giáo dục, y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…
Bộ trưởng Tài chính khẳng định sẽ tiếp tục làm rõ những đặc thù, tiềm năng, lợi thế của 6 vùng kinh tế - xã hội để cập nhật vào trong Quy hoạch tổng thể quốc gia, đảm bảo có trọng tâm, trọng điểm và không dàn trải.
1. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc gồm 9 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La.
2. Vùng Đồng bằng sông Hồng gồm 6 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Quảng Ninh.
3. Vùng Bắc Trung Bộ gồm 5 tỉnh, thành phố: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế.
4. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên gồm 6 tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng.
5. Vùng Đông Nam Bộ gồm 3 tỉnh, thành phố: TP.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh.
6. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm 5 tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau.




















