Thời khắc Bảo Đại thoái vị, bỏ ngai vàng, trao ấn kiếm xuống làm thường dân
(Dân trí) - Một ngày sau khi thoái vị, vua Bảo Đại - bấy giờ đã trở thành công dân Vĩnh Thụy - vẫn ở trong điện Kiến Trung. Ông thấy tự do, thanh thản khi rời bỏ ngai vàng, một nhiệm vụ mà ông gọi là “lịch sử”.
Bảo Đại tên khai sinh là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, là vị hoàng đế thứ 13 và là vị vua cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn, cũng là vị hoàng đế cuối cùng của chế độ quân chủ trong lịch sử Việt Nam.
Trong sách Bảo Đại hay là những ngày cuối cùng của vương quốc An Nam, tác giả người Pháp Daniel Grandclément cho biết, Bảo Đại là người hào hoa, săn bắn giỏi, biết khiêu vũ, đánh golf, chơi quần vợt... Nhưng ông chỉ không giỏi làm vua.
Suốt những năm trị vì, vị hoàng đế nổi tiếng chấp nhận thân phận "bù nhìn", còn hành động ý nghĩa nhất ông từng làm cho lịch sử là... thoái vị.

Bảo Đại là hoàng đế cuối cùng của chế độ quân chủ trong lịch sử Việt Nam (Ảnh: Tư liệu).
Sự giằng xé nội tâm của Bảo Đại và cuộc vận động nhà vua thoái vị
Ngày 14/8/1945, Chính phủ Nhật đầu hàng quân Đồng minh, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Quyền lực của khâm sai, tỉnh trưởng chính phủ Trần Trọng Kim (chính phủ Trần Trọng Kim do Nhật dựng lên vào tháng 3/1945 để phục vụ cho việc chiếm đóng Việt Nam) tan rã từng mảng.
Thời gian gấp gáp, cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam bùng nổ. Dưới ngọn cờ lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân nhất tề đứng dậy khởi nghĩa lật đổ ách thống trị của thực dân - phong kiến.

Nhân dân Thừa Thiên Huế tham gia giành chính quyền ngày 23/8/1945 (Ảnh: Tư liệu).
Tại Thừa Thiên Huế, nhân dân nổi dậy lập chính quyền cách mạng tại một số huyện. Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới trên nhiều nóc nhà. Khắp các con đường, tiếng hò reo xen lẫn những tiếng hô khẩu hiệu "Ủng hộ Việt Minh", "Đả đảo phát xít"… vang lên như sấm dậy.
Triều đình nhà Nguyễn đứng trước sự sụp đổ không thể tránh khỏi. Trong Đại Nội, tâm trạng vua Bảo Đại lo lắng khi những tin tức xấu liên tục dội về. Hy vọng của nhà vua về việc giành độc lập từ Nhật cũng ngày càng tàn lụi.
Trước những cuộc nổi dậy ở Huế, quân đội Nhật đề nghị dùng vũ lực, "chỉ cần hai tiếng đồng hồ là quét sạch cuộc nổi loạn". Nhưng nhà vua từ chối: "Tôi không muốn một đội quân ngoại quốc nào làm đổ máu dân tộc tôi".
Ngày 17/8, nhà vua quyết định hành động. Ông triệu tập một cuộc họp bất thường của nội các lâm thời. Ở cuộc họp, Trần Trọng Kim và một số người muốn ngăn cản làn sóng của Việt Minh, duy trì chế độ quân chủ.
Trong khi đó, Đổng lý Ngự tiền Văn phòng Phạm Khắc Hoè - người có tư tưởng tiến bộ, đã tiếp xúc với ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế - phân tích cho vua hiểu về thất bại của phát xít Nhật trên thế giới và thắng lợi tất yếu của Việt Minh.
Ông Phạm Khắc Hòe nhận thấy cần phải ngăn chặn việc “lợi dụng Bảo Đại để lừa bịp nhân dân, gây khó khăn cho bước tiến của dân tộc”, nên tích cực vận động Bảo Đại thoái vị.
Trong hồi ký của mình, vua Bảo Đại viết: "Tôi đã chọn chỗ đứng của tôi". Sau cuộc họp nội các, ông yêu cầu Phạm Khắc Hòe soạn thảo Đạo dụ số 105, tuyên bố ý định của ông là "sẵn sàng trao chính quyền cho Việt Minh".
"Muốn củng cố độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc Trẫm sẵn sàng hy sinh về tất cả phương diện. Trẫm đặt hạnh phúc của nhân dân Việt Nam lên trên ngai vàng của Trẫm. Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ, Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hy sinh như Trẫm", trích đoạn dự thảo.
Khi ông Phạm Khắc Hòe đệ trình bản dự thảo lần cuối, vua Bảo Đại đọc to, rõ ràng từng lời nói đầy dũng cảm đã đi vào lịch sử: "Trẫm muốn làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ...".
Ông còn nhắc đi nhắc lại như để nhập tâm và cho "quen miệng", để không vấp váp khi phải nói trước nhân dân. Sau một lát đắn đo, ông nhún vai nhè nhẹ rồi cuối cùng đặt bút ký.

Vua Bảo Đại đã có cuộc đấu tranh nội tâm trước khi từ bỏ ngai vàng (Ảnh: Tư liệu).
Tất nhiên, từ bỏ ngai vàng không bao giờ là một việc dễ dàng. Dù đã đặt bút ký vào bản dự thảo, Bảo Đại vẫn muốn biết nhà cách mạng đứng sau Việt Minh là ai.
Chiều 19/8, Bảo Đại bốn lần gọi ông Phạm Khắc Hòe, hỏi về lãnh tụ của Việt Minh. Mọi người chỉ biết Nguyễn Ái Quốc, nhà cách mạng, nhưng ít người biết Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh chỉ là một.
Trước thắc mắc đó, Phạm Khắc Hoè kể cho vua Bảo Đại nghe câu sấm thần bí được lưu truyền từ lâu ở vùng Nghệ Tĩnh: “Đụn Sơn phân giải, Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh”. Nhân vật Thánh Nam Đàn trong câu sấm được mọi người tin đó chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc.
Nghe xong, Bảo Đại đi từ điện Kiến Trung ra điện Càn Long rồi lên kiệu ra Thái Hoà dự lễ. Khi nhà vua vừa bước lên kiệu đi ngang qua, một cái xà rơi xuống đột ngột. Nếu xà rơi sớm vài giây, Bảo Đại đã gặp nguy hiểm.
Hoàng thái hậu Đức Từ Cung cho rằng đó là Phật Thánh báo hiệu về bước ngoặt rất lớn sắp xảy ra trong đời vua Bảo Đại, nhưng nhà vua vẫn an toàn, vô sự. Ông Phạm Khắc Hoè lý giải rõ hơn: “Cái xà to tướng rơi tức là thực dân Pháp đổ từ nay không có Tây đứng bên cạnh Ngài nhưng Ngài vẫn an toàn vô sự nhờ có sự che chở của cách mạng”.
Các sự kiện liên tiếp đã tác động đến tư tưởng vua Bảo Đại. Ông bật ngay ra một câu tiếng Pháp “Ca vaut bien le coup alors”, nghĩa là: “Như vậy thì thật đáng thoái vị”. Có được tín hiệu này, ông Phạm Khắc Hoè tập trung hoàn thành dự thảo chiếu thoái vị cho Bảo Đại ngay trong đêm 20/8.
Ngày 23/8, Ủy ban Dân tộc Giải phóng gửi điện tín đến vua Bảo Đại, yêu cầu giao lại lính khố vàng, vũ khí đạn dược cho chính quyền cách mạng. “Trước ý chí đồng nhất của toàn thể dân chúng Việt Nam, sẵn sàng hy sinh tất cả để cứu vãn nền độc lập quốc gia, chúng tôi thành kính xin đức Hoàng đế hãy làm một cử chỉ lịch sử để từ bỏ ngai vàng”, bức "tối hậu thư" viết.
Trong hồi ký, Bảo Đại cho biết, khi nhận bức điện ông chẳng cần biết rõ ai là người thủ xướng, nhưng bức điện này đã phản ánh một ý chí vô cùng thành thực: “Người thảo ra bức điện văn là những nhà ái quốc y như tôi, đều mong mỏi độc lập và thống nhất cho Tổ quốc Việt Nam”.
Ở Đại nội, vua Bảo Đại thấy xung quanh hoàn toàn trống rỗng. Chẳng thấy Trần Trọng Kim, cũng chẳng thấy bất cứ một bộ trưởng nào vào điện. Chỉ còn vài người lính phụ trách mở và đóng cửa điện, đi lại giữa sân chầu vắng lạnh.
Bảo Đại nhớ lại chiếc xà rơi, nhớ đến lời tiên tri của mẫu thân: “Một bước ngoặt của đời con…”. Ông nhận ra thời khắc định mệnh đã đến, để ông có sự lựa chọn hòa hợp với số mệnh của chính mình với số mệnh của toàn thể nhân dân. Nhà vua nhận ra cần vớt vát được đôi chút thể diện, chấp nhận từ bỏ ngai vàng, sẵn sàng cùng nhân dân giữ gìn nền độc lập.
"Vua Bảo Đại nuốt tiếng thở dài, xúc động tắt cả tiếng"
Ngay sau khi nhận tối hậu thư của Việt Minh, vào 12h25 ngày 23/8, cuộc họp nội các lâm thời được tổ chức do vua Bảo Đại làm chủ tọa. Không bàn luận nhiều, mọi người nhất trí chấp nhận tất cả điều kiện của Việt Minh đưa ra.
Một ngày sau, ông Phạm Khắc Hoè gửi cho Uỷ ban Nhân dân cách mạng Bắc Bộ một bức điện, nói rằng hoàng đế vui lòng thoái vị, mọi việc đã chuẩn bị sẵn sàng. "Nhưng vì có trách nhiệm đối với lịch sử, toàn thể quốc dân và muốn Chính phủ mới chính thức ra mắt quốc dân một cách long trọng, ngài mong ông Chủ tịch Chính phủ nhân dân cách mạng lâm thời về Thuận Hoá để ngài giao chính quyền", trích đoạn bức điện.
Ngày 26/8, một bức điện khác từ Ủy ban Dân tộc Giải phóng ở Hà Nội gửi về, viết: "Hoan nghênh nhà vua đã thoái vị, nhường chính quyền cho Việt Minh là đại biểu của các tầng lớp dân chúng. Ngày 27/8, đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời sẽ lên đường đi Thuận Hoá".
Tất cả dường như đã kết thúc. Ngay trong ngày 26/8, vua Bảo Đại mời đông đủ văn võ bá quan đến dự lễ cáo yết thoái vị với tổ tiên. Nhưng buổi lễ chẳng có nhiều người đến. Tại điện Kiến Trung, một số quan vái chào nhà vua và hoàng hậu lần cuối cùng.
"Bảo Đại nét mặt vẫn lạnh lùng, thản nhiên nhưng Nam Phương lặng lẽ khóc thầm, để yên những giọt nước mắt lăn trên gò má. Bà cho người đem trả chiếc mũ có đính chín con phượng hoàng bằng vàng cho Ngự tiền văn phòng, nhưng ông Phạm Khắc Hòe không nhận, lấy lý do là tài sản quốc gia sẽ được kiểm kê sau", sách Bảo Đại hay là những ngày cuối của vương quốc An Nam viết.
Chiều 29/8, vua Bảo Đại mặc áo dài, tiếp đoàn đại diện Chính phủ lâm thời gồm Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận. Trong cuộc trò chuyện, Bảo Đại được Trần Huy Liệu khen ngợi tinh thần yêu nước. Nhà vua thốt lên: “Tôi còn ở ngai vàng ngày nào thì còn bị bọn Pháp lợi dụng ngày ấy”.
Cuối cùng, với sự vận động của Đổng lý Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hòe và chuẩn bị chu đáo của phía cách mạng, vua Bảo Đại hoàn toàn chấp thuận tham gia lễ thoái vị, tổ chức ở trước cửa Ngọ Môn ngày hôm sau.

Người dân Thừa Thiên Huế và các đội Cứu quốc quân tiến về sân vận động Huế, tháng 8/1945 (Ảnh: Tư liệu).
Chiều 30/8 là một buổi chiều thu mát mẻ. Các đoàn đại biểu, nhân dân khắp nơi tập hợp đông đủ, hàng ngũ chỉnh tề từ sân cỏ trước cửa Ngọ Môn đến chân cột cờ. Tất cả đều đứng yên lặng. Không khí uy nghi và trang trọng giây phút chờ đón thời khắc vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị.
Đúng 16h, vua Bảo Đại mặc hoàng bào có thêu rồng trước ngực, đầu chít khăn vàng, quần lụa trắng, chân đi giày thêu, đứng trên lầu cửa Ngọ Môn phía bên trái. Đoàn đại diện Chính phủ lâm thời đứng bên phải. Tiếng loa bất ngờ vang lên: “Yêu cầu toàn thể đồng bào lắng nghe bản tuyên bố xin thoái vị”. Nhân dân đã yên lặng càng yên lặng.
Vua Bảo Đại cầm sẵn cuộn giấy trắng trong tay, đứng trước máy truyền thanh. Dân chúng im phăng phắc nghe tâm sự của một vị vua sắp thành thường dân. Giọng Bảo Đại có phần chậm chạp như đánh vần. Có lúc, ông dừng lại muốn nuốt tiếng thở dài, xúc động tắt cả tiếng.
“Từ nay Trẫm vui mừng được làm dân một nước độc lập, quyết không để ai lợi dụng danh nghĩa của Trẫm hay danh nghĩa của Hoàng gia mà lung lạc quốc dân nữa”, vua Bảo Đại nói.
“Việt Nam độc lập muôn năm! Dân chủ cộng hòa muôn năm!”, cuối cùng, Bảo Đại hô to.

Cựu hoàng Bảo Đại trao ấn kiếm cho đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời tại lễ thoái vị ngày 30/8/1945 (Ảnh: Tư liệu).
Đọc xong chiếu thoái vị, Bảo Đại đưa tay mở cúc áo ở cổ như vừa bị ngạt thở. Như được ai nhắc, ông liền quay về bên phải, hai tay nâng chiếc khay đặt ấn vàng và thanh bảo kiếm để trong vỏ bằng vàng nạm - hai bảo vật tượng trưng cho quân quyền - trao cho ông Trần Huy Liệu, đại diện Chính phủ lâm thời thu nhận.
Lúc ấy, một tràng súng lệnh nổ. Từ trên Ngọ Môn, tiếng loa lại vang lên: “Hạ cờ cũ xuống!”. Trên kỳ đài, lá cờ vàng từ từ hạ xuống. Ở lầu Ngọ Môn, Bảo Đại nhìn cờ hạ xuống, cúi đầu xuống theo.
Chế độ quân chủ phong kiến sau hơn một thế kỷ nhà Nguyễn trị vì đã chính thức kết thúc. Hàng nghìn năm phong kiến tại Việt Nam cũng khép lại. Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời Trần Huy Liệu gắn dấu hiệu cờ đỏ sao vàng lên ngực ông Vĩnh Thụy, người công dân mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tiếng loa lại vang lên: “Mời tất cả hướng ra kỳ đài!” Hàng ngàn người cùng lúc quay lưng phía Ngọ Môn, nhìn ra phía sông Hương, phía núi Ngự. Tiếng loa tiếp vang lên dõng dạc, dồn dập: “Phát năm tiếng lệnh! Quốc ca! Thượng quốc kỳ!”
Ba yêu cầu đề ra cùng lúc nhưng được thực hiện rất ăn khớp. Giữa tiếng lệnh từ trên thành cao nổ vang trời, bản Quốc ca cất lên uy nghiêm hùng tráng. Lá cờ đỏ sao vàng cũng từ từ vươn lên, oai hùng giữa trời mây bát ngát.
Hàng chục ngàn người cùng một lúc nhìn theo cờ ngẩng đầu lên cao, nhìn thẳng, tự hào, hiên ngang, hùng dũng.
Cựu hoàng bỏ ngai vàng, bước xuống hàng thường dân
Sau lễ thoái vị, không khí đường phố Huế vẫn náo nhiệt. Đoàn quần chúng hằng ngày diễu hành trên hai bờ sông Hương. Cuộc chuyển giao chế độ quyền lực tại cố đô Huế diễn ra trong hòa bình, êm ả.
Theo nhà thơ Cù Huy Cận kể lại, có một chi tiết không nhiều người biết, rằng trước khi diễn ra buổi lễ ngày 30/8, tại buổi hội đàm với phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời, vua Bảo Đại không chỉ đồng ý tổ chức lễ thoái vị, mà còn thống nhất chuyển giao toàn bộ tài sản của vương triều cho chính quyền cách mạng. Ông chỉ yêu cầu được giữ lại cung An Định và các lăng tẩm của tổ tiên.
Chính vì vậy, sau lễ thoái vị, phái đoàn của chính quyền cách mạng đã chuyển nhiều bảo vật quý giá, bao gồm ấn tín bằng vàng bạc, ngọc ngà, cổ vật, tặng phẩm ngoại giao… ra miền Bắc.

Bên trong điện Kiến Trung tại Đại nội Huế năm 2024 (Ảnh: Vi Thảo)
Một ngày sau buổi lễ 30/8/1945, bên trong cung điện một thời vàng son, không khí trở nên yên ắng, man mác nỗi buồn. Trong hồi ký, cựu hoàng cho biết, ông đưa mẹ là bà Từ Cung, vợ Nam Phương cùng con cái và người hầu cận về cung An Định sinh sống, còn ông ở lại cung điện Kiến Trung.
"Tôi tìm thấy một sự thanh thản, bình tĩnh vô cùng. Tôi không thấy một sự hối hận nào. Tôi gần có thể kêu lên: “Thật hoàn toàn tự do”...
Tất nhiên, sự hy sinh ấy không phải dễ, nhưng nó đã cho phép cứu nguy dân tộc và chứng tỏ sự đoàn kết quốc gia. Bây giờ, nhân dân cần phải nắm tay kết thành một khối chặt chẽ chung quanh một đoàn thể, mạnh mẽ hơn tôi nhiều, để có thể thể hiện được nền độc lập ấy", cựu hoàng viết.
Trong lúc Bảo Đại còn đang hoàn thành việc kiểm kê, bàn giao tài sản của vương triều cho chính quyền cách mạng, thì ông Tôn Quang Phiệt chuyển đến cho ông một bức điện do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký. Theo đó, Chính phủ lâm thời mời công dân Vĩnh Thuỵ ra Hà Nội làm cố vấn tối cao cho chính phủ.
"Công dân Vĩnh Thụy - tên gọi của tôi, sau khi thoái vị - chẳng có việc gì làm ở Huế. Tôi quyết định nhận lời mời của Hồ Chí Minh để ra Hà Nội", cựu hoàng thuật lại trong hồi ký.

Công dân Vĩnh Thụy - cựu hoàng Bảo Đại bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 11/1945 (Ảnh: Tư liệu).
Hà Nội, thủ đô mới của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, là một thành phố mà cựu hoàng mới chỉ đặt chân đến một lần, thời người Pháp cho ông đi thăm đất nước trước khi nắm quyền.
Ít ngày sau đó, ông rời Huế ra Hà Nội. Khi công dân Vĩnh Thụy đi qua đám đông, nhiều người dân mở to mắt, nhìn kỹ vị cựu hoàng. Những đồng bào chất phác đó quả không ngờ, vị hoàng đế vận âu phục đang ở giữa họ, cũng hệt như mọi thường dân khác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cựu hoàng Bảo Đại - Cố vấn của Chính phủ lâm thời Việt Nam - dự “Ngày tiễu trừ giặc đói” 11/10/1945 (Ảnh tư liệu).
Như vậy, Bảo Đại - ông vua thứ 13 của nhà Nguyễn thoái vị trở thành công dân Vĩnh Thụy - đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh bố trí làm Cố vấn của Chính phủ năm 32 tuổi. Đến ngày 6/1/1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Những năm sau này, cựu hoàng xin từ chức Cố vấn Chính phủ. Ông sống lưu vong và qua đời tại Paris (Pháp).
Cột mốc lớn trong lịch sử Việt Nam
Chia sẻ với phóng viên Dân trí, Thạc sĩ Dương Thành Thông - Phó Trưởng Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TPHCM - cho biết, sự kiện vua Bảo Đại thoái vị vào ngày 30/8/1945 không chỉ là cột mốc quan trọng của Cách mạng tháng Tám, mà còn là một bước ngoặt mang tính biểu tượng sâu sắc trong dòng chảy lịch sử dân tộc.
Hành động thoái vị của vua Bảo Đại được đánh giá là một lựa chọn sáng suốt, thức thời và có tinh thần dân tộc. Ở bối cảnh “sóng triều cách mạng” dâng cao không thể đảo ngược, việc cố gắng níu giữ ngai vàng sẽ chỉ dẫn đến xung đột, đổ máu vô ích cho dân tộc. Thay vì đối đầu, nhà vua đã chọn con đường hòa hợp, chuyển giao quyền lực một cách hòa bình và trật tự.
“Trẫm muốn làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước nô lệ” - câu nói nổi tiếng của Bảo Đại - đã thể hiện rõ sự chuyển biến trong tư tưởng, đặt lợi ích của quốc gia và nền độc lập lên trên lợi ích của ngai vàng và hoàng tộc. Hành động này đã giúp quy tụ lòng dân, tránh được một cuộc nội chiến và tạo ra sự đồng thuận xã hội hiếm có vào thời khắc lịch sử.
"Đối với Cách mạng tháng Tám nói riêng, sự thoái vị của Bảo Đại mang ý nghĩa then chốt về tính chính danh. Việc hoàng đế của triều đại phong kiến cuối cùng tự nguyện trao lại ấn tín và thanh kiếm - những biểu tượng quyền lực tối cao của chế độ cũ - cho đại diện của Chính phủ lâm thời đã hợp thức hóa, củng cố uy tín và địa vị pháp lý cho nhà nước cách mạng non trẻ.
Sự chuyển giao này mang ý nghĩa như một sự trao truyền “thiên mệnh”, giúp chính quyền mới nhanh chóng tập hợp được sự ủng hộ của toàn dân, đoàn kết mọi tầng lớp để đối phó với những thử thách sắp tới.
Đối với lịch sử Việt Nam nói chung, sự kiện này đã chấm dứt hoàn toàn chế độ quân chủ chuyên chế đã tồn tại hàng ngàn năm ở Việt Nam. Nó là một sự đoạn tuyệt dứt khoát với tàn dư của xã hội phong kiến, mở ra một chương mới trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên của độc lập, tự do và dân chủ cộng hòa. Đây là một biểu tượng hùng hồn cho sự thắng lợi của tinh thần dân tộc và xu thế thời đại, khẳng định quyền làm chủ vận mệnh đất nước của nhân dân Việt Nam".
* Bài viết có tham khảo tư liệu từ:
Hồi ký Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc (Phạm Khắc Hòe, NXB Trẻ, 1996).
Tuyển tập Bình Trị Thiên tháng Tám bốn lăm (Nhiều tác giả, NXB Thuận Hóa, 1985).
Sách Bảo Đại hay là những ngày cuối cùng của vương quốc An Nam (Daniel Grandclément, NXB Phụ nữ, 2007).
Hồi ký Con rồng An Nam (vua Bảo Đại, xuất bản tại Pháp năm 1980).
























