DNews

Ba trụ cột đưa Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình

Ngô Hoàng

(Dân trí) - Với ba trụ cột khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Việt Nam đang tạo ra vận hội mới để bứt phá trong kỷ nguyên số.

Ba trụ cột đưa Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình

Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước ngoặt chiến lược khi xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính để nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), yếu tố quyết định liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và trở thành nước giàu mạnh, phát triển vào năm 2045.

Bẫy thu nhập trung bình và thách thức TFP

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã vươn lên từ nước nghèo với thu nhập chỉ hơn 100 USD/người (1986) thành nước có thu nhập trung bình cao với GDP bình quân đầu người vượt 5.000 USD vào năm 2025.

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay là nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình - hiện tượng một quốc gia đạt thu nhập trung bình nhưng không thể tiến lên thu nhập cao, như nhiều nước châu Mỹ Latinh và một số nước Đông Nam Á đã trải qua.

Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á, trong giai đoạn 2011-2020, TFP chỉ đóng góp khoảng 30-35% vào tăng trưởng GDP của Việt Nam. Điều này có nghĩa 65-70% tăng trưởng đến từ việc đầu tư thêm vốn và lao động - mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, không bền vững.

Khi dân số già đi (tỷ lệ người trên 60 tuổi sẽ tăng từ 12-13% hiện nay lên 20-25% vào năm 2045) và chi phí lao động tăng nhanh, nguồn tăng trưởng từ tích lũy vốn và lao động sẽ cạn kiệt.

Ba trụ cột đưa Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình - 1

Đoàn Chủ tịch tại Đại hội XIV của Đảng (Ảnh: Tiến Tuấn).

Ngược lại, các nền kinh tế thành công như Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore trong giai đoạn cất cánh thập niên 1980-1990 đều có TFP đóng góp từ 40-50% vào tăng trưởng - họ tăng trưởng bằng cách sử dụng hiệu quả hơn những gì đã có. Đó là sự khác biệt giữa một nền kinh tế phát triển và một nền kinh tế mắc kẹt ở thu nhập trung bình.

TFP: Biểu hiện của năng lực đổi mới và tổ chức thông minh

TFP thường được gọi là “phần dư” - phần tăng trưởng không giải thích được bởi vốn và lao động. Nhưng đây không phải yếu tố thứ yếu.

TFP phản ánh mọi yếu tố khiến nền kinh tế hoạt động thông minh hơn: công nghệ tiên tiến hơn, tổ chức quản lý tốt hơn, kỹ năng lao động cao hơn, cơ sở hạ tầng hiệu quả hơn và thể chế kinh tế thông thoáng, thuận lợi hơn.

Theo nghiên cứu công bố năm 2021 trên tạp chí Economies, TFP của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam mỗi năm chỉ tăng 2,62%, doanh nghiệp FDI tăng 1,49% - thấp hơn nhiều so với mức 3-5% của các nền kinh tế đang cất cánh.

Đây chính là lý do Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng xác định rõ: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính”, nhắm đến mục tiêu TFP đóng góp 50% vào tăng trưởng vào năm 2030.

Ba cặp nguyên nhân - giải pháp để nâng cao TFP

Nguyên nhân đầu tiên là khoa học công nghệ giải quyết hiệu quả kỹ thuật yếu khiến TFP thấp - khoảng cách giữa năng suất thực tế của doanh nghiệp với biên giới công nghệ tăng cao.

Theo báo cáo Ngân hàng Thế giới năm 2022, chỉ 18% doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, giảm từ 35% năm 2009. Đây là nơi doanh nghiệp có thể học hỏi công nghệ và phương pháp quản lý tiên tiến để thu hẹp khoảng cách với biên giới công nghệ.

Chính sách khoa học công nghệ trong Đại hội XIV của Đảng trực tiếp giải quyết vấn đề này. Nghị định 19/2025 đánh dấu bước chuyển từ thu hút đầu tư nước ngoài theo “số lượng” sang “chất lượng”: Các dự án trên 100 triệu USD phải nội địa hóa 30% trong năm thứ ba và 50% trong năm thứ năm, thành lập trung tâm R&D với ít nhất 50 kỹ sư Việt Nam, và phát triển ít nhất 10 nhà cung cấp cấp một nội địa trong 5 năm.

Ba trụ cột đưa Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình - 2

Chip bán dẫn do Tập đoàn Viettel nghiên cứu và phát triển (Ảnh: CTV).

Khi công ty Việt Nam trở thành nhà cung cấp cấp một cho tập đoàn đa quốc gia, họ phải đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.

Quá trình này buộc họ nâng cấp công nghệ, cải thiện quản lý, nâng cao hiệu quả kỹ thuật - đúng như cách Đài Loan và Hàn Quốc đã làm trong thập niên 1980-1990. Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học công nghệ phải đóng góp ít nhất 50% vào tăng trưởng GDP đến 2030, phản ánh quyết tâm biến khoa học công nghệ thành lực lượng sản xuất chủ yếu.

Nguyên nhân thứ hai là đổi mới sáng tạo cải thiện phân bổ nguồn lực chưa tối ưu. Nghiên cứu kinh điển của Hsieh và Klenow năm 2009 chỉ ra nếu phân bổ nguồn lực hiệu quả, TFP có thể tăng 30-60% mà không cần thêm cải tiến công nghệ nào.

Theo số liệu Ngân hàng Nhà nước cuối 2024, hệ số tăng vốn sản lượng của một số doanh nghiệp cao hơn 15-20% so với doanh nghiệp tư nhân, cho thấy vốn không chảy đến các doanh nghiệp năng suất cao nhất.

Chính sách đổi mới sáng tạo trong các văn kiện Đại hội XIV trực tiếp giải quyết vấn đề phân bổ này. Lần đầu tiên, khu vực tư nhân được công nhận là “một động lực quan trọng nhất” - không phải “một trong những” mà là “nhất”.

Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi số 67/2025 chuyển từ ưu đãi dựa trên hình thức sở hữu sang ưu đãi dựa trên ngành và công nghệ, đảm bảo nguồn lực chảy đến các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có năng suất cao.

Ưu đãi cho ngành công nghệ cao bao gồm miễn thuế 4 năm, giảm 50% trong 9 năm tiếp theo, sau đó từ 5-10% trong 15 năm.

Doanh nghiệp được khấu trừ 200% chi phí R&D, trích tối đa 20% lợi nhuận vào Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ không chịu thuế, và khấu hao nhanh thiết bị nghiên cứu và phát triển (R&D) trong 3 năm thay vì 5-7 năm.

Quan trọng hơn, mỗi chính sách có thời hạn 3-5 năm và phải đánh giá sau 2 năm: nếu không đạt 2 trong 3 tiêu chí (TFP tăng, tỷ lệ nội địa hóa cải thiện, xuất khẩu tăng trưởng), ưu đãi bị thu hồi và nguồn lực được tái phân bổ. Đây là cơ chế đảm bảo nguồn lực luôn chảy đến các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo hiệu quả nhất.

Việt Nam duy trì vị trí thứ 44/139 quốc gia trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo Toàn cầu. Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ đề ra mục tiêu 40% kết quả nghiên cứu được thương mại hóa, hình thành hệ sinh thái lấy doanh nghiệp làm trung tâm, viện trường là nguồn tri thức, nhà nước là người kiến tạo.

Nguyên nhân thứ ba là chuyển đổi số thúc đẩy đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) và hiện đại hóa toàn diện còn thấp.

Theo số liệu Bộ Khoa học và Công nghệ 2024, chi R&D của Việt Nam năm 2023 chỉ đạt 0,43-0,44% GDP, thấp hơn rất nhiều so với Singapore (2,2%), Hàn Quốc (4,8%) và Trung Quốc (2,4%). Quan trọng hơn, khu vực tư nhân chỉ đóng góp 30-35% chi R&D, trong khi ở các nước thành công, doanh nghiệp đóng góp 60-70%.

Ba trụ cột đưa Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình - 3

Phối cảnh một phần Dự án Khu Công viên Công nghệ số và Hỗn hợp vừa được TP Hà Nội khởi công (Ảnh: CTV).

Chính sách chuyển đổi số là công cụ mạnh mẽ để thúc đẩy R&D và hiện đại hóa toàn diện nền kinh tế. Kinh tế số Việt Nam 2025 đạt 72,1 tỷ USD (14,02% GDP), nhưng mục tiêu là 30% GDP vào năm 2030 và 50% vào năm 2045.

Chính phủ phân bổ 3% ngân sách quốc gia cho đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, với mục tiêu tăng tổng chi R&D từ 0,43% GDP lên 2% GDP vào năm 2030 - trong đó 60% (1,2% GDP) phải đến từ khu vực tư nhân.

Chuyển đổi số không chỉ là số hóa các quy trình hiện có, mà là tái cấu trúc căn bản cách thức sản xuất, quản lý và phân phối.

Khi doanh nghiệp áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), họ không chỉ tăng hiệu quả hoạt động hiện tại mà còn mở ra không gian cho đổi mới sản phẩm và dịch vụ hoàn toàn mới.

Đây chính là cách chuyển đổi số nâng cao TFP: Nó vừa cải thiện hiệu quả kỹ thuật (thông qua công nghệ tiên tiến), vừa tối ưu phân bổ nguồn lực (thông qua dữ liệu và phân tích), vừa thúc đẩy R&D (thông qua nền tảng số cho nghiên cứu và thử nghiệm nhanh).

Hai lĩnh vực đột phá chiến lược - bán dẫn và AI - minh họa rõ ràng cách ba trụ cột khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phối hợp nâng cao TFP.

Thứ nhất, ngành bán dẫn toàn cầu năm 2023 đạt 529 tỷ USD, dự kiến đạt 1.000 tỷ USD vào năm 2030. Quyết định 1018/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành bán dẫn với công thức C = SET + 1 (Chuyên môn hóa + Hệ sinh thái + Tài năng + Việt Nam là điểm đến mới). Chính phủ cam kết đầu tư 1 tỷ USD đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn vào năm 2030.

Việt Nam là một trong sáu quốc gia được Mỹ lựa chọn theo Đạo luật CHIPS để củng cố chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thứ hai, thị trường AI toàn cầu dự kiến đạt 826,70 tỷ USD vào năm 2030 với tốc độ tăng trưởng 28,46%/năm. Tiềm năng kinh tế AI tại Việt Nam ước tính 1.890 nghìn tỷ đồng (79,3 tỷ USD) vào năm 2030. Việt Nam xếp thứ 5/10 ASEAN và thứ 59/193 quốc gia về mức độ sẵn sàng AI, vượt mức trung bình toàn cầu ba năm liên tiếp.

Đổi mới tiếp theo ở phía trước

Ngay sau Đại hội XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký Chỉ thị 01-CT/TW về triển khai Nghị quyết. Lần đầu tiên, Chương trình hành động được tích hợp ngay trong Văn kiện, gắn mục tiêu với giải pháp, phân công trách nhiệm rõ ràng.

Ba trụ cột đưa Việt Nam thoát bẫy thu nhập trung bình - 4

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ra mắt Đại hội (Ảnh: TTXVN).

Bên cạnh đó, Tổng Bí thư chính là người trực tiếp đứng đầu Hội đồng Chỉ đạo Trung ương về Phát triển Khoa học và Công nghệ, thể hiện quyết tâm chính trị cao nhất.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai cần giải quyết ba khoảng cách là đo lường (TFP khó đo lường chính xác, cần chỉ số đại diện), điều phối (nhiều bộ ngành phải phối hợp chặt chẽ) và văn hóa (cần cơ chế “an toàn để thất bại” để cán bộ dám mạo hiểm với các sáng kiến đổi mới).

Bài học kinh nghiệm từ Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore cho thấy nếu TFP tăng ổn định 3-5% mỗi năm trong 20-30 năm, một quốc gia có thể chuyển từ thu nhập trung bình lên thu nhập cao. Để đạt tốc độ tăng trưởng 10%/năm giai đoạn 2026-2030, năng suất lao động Việt Nam cần tăng 8,1-8,6%/năm, TFP đóng góp bình quân 55%, tỷ lệ đầu tư/GDP đạt 36,4-40,8%.

TFP không chỉ là con số thống kê mà là thước đo khả năng biến nguồn lực hữu hạn thành giá trị vô hạn thông qua trí tuệ và sáng tạo.

Việc xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là ba trụ cột nâng cao TFP không phải ngẫu nhiên: Khoa học công nghệ cải thiện hiệu quả kỹ thuật, đổi mới sáng tạo tối ưu phân bổ nguồn lực, chuyển đổi số thúc đẩy R&D và hiện đại hóa toàn diện.

Ba trụ cột này tạo thành một hệ thống tương tác, hỗ trợ lẫn nhau để nâng cao TFP một cách toàn diện.

Đại hội XIV của Đảng không phải điểm kết mà là điểm khởi đầu cuộc Đổi Mới lần hai - không chỉ về cơ chế thị trường mà về toàn bộ cách thức tổ chức sản xuất, quản lý nguồn lực và phát triển con người. Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử nhưng chịu áp lực thời gian khi cửa sổ cơ hội nhân khẩu học đang đóng dần.

Lịch sử kinh tế thế giới cho thấy không có quốc gia nào thoát bẫy thu nhập trung bình mà không trải qua cải cách đau đớn và quyết định chính trị dũng cảm.

Như người Hàn Quốc đã tâm niệm: “Chúng ta không có tài nguyên thiên nhiên, nên phải đầu tư vào con người và trí tuệ”. Đó chính là điều chúng ta có thể tham khảo áp dụng cho chặng đường phát triển sắp tới để đưa Việt Nam trở thành nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh vào năm 2045 như Đại hội Đảng lần thứ XIV đã đề ra.