Nhóm học sinh 15 tuổi đưa bài chòi vào văn hoá cà phê của giới trẻ
(Dân trí) - Nhóm học sinh tuổi 15 đến từ Hà Nội đã tìm cách đưa nghệ thuật bài chòi vào đời sống của giới trẻ thông qua cách tiếp cận đầy sáng tạo.
Những thiếu niên giải bài toán đưa di sản UNESCO vào đời sống giới trẻ
Nghệ thuật bài chòi được UNESCO vinh danh là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại vào năm 2017. Trên thực tế, loại hình trò chơi dân gian kết hợp diễn xướng này từ lâu không còn hiện diện trong sinh hoạt thường nhật của người dân Trung bộ, và càng xa lạ với giới trẻ đô thị.
Đó cũng chính là lý do khiến nhóm 6 học sinh (SN 2010) quyết tâm đưa di sản rời sân khấu và ra khỏi bảo tàng, thoát khỏi các khuôn khổ lễ nghi truyền thống và cộng đồng thực hành để đặt chân vào đời sống công chúng rộng rãi.
Ý tưởng khởi nguồn từ Vũ Bảo Anh (Trường song ngữ DGS - Delta Global School) và Phan Trương Ngọc Linh (Trường PTLC Olympia).
Trong một chuyến trại hè tổ chức tại Bình Định (nay là Gia Lai), hai nữ sinh và nhóm bạn đã gặp bà Nguyễn Thị Thanh Nga, chủ một cơ sở đào tạo nghề cho người khuyết tật và làm các sản phẩm tái chế.
Cuộc trò chuyện tại vườn tái chế đã khiến Ngọc Linh và Bảo Anh bị thôi thúc bởi ý nghĩ làm cách nào để có thể tạo ra một dòng sản phẩm vừa mang đặc trưng văn hoá bản địa vừa có giá trị thương mại, cải thiện sinh kế cho người khuyết tật nơi đây.

Nhóm học sinh thực hiện dự án Sáng kiến di sản văn hoá trẻ (Ảnh: NVCC).
Trở về Hà Nội, Bảo Anh và Ngọc Linh bắt tay ngay vào việc hiện thực hóa ý tưởng này, trở thành dự án đầu tiên của Sáng kiến di sản văn hoá trẻ do chính hai em sáng lập trước đó. Tên tiếng Anh của Sáng kiến di sản văn hoá trẻ là Youth cultural heritage initiative, viết tắt là YCHI, phát âm là “ý chí”.
Ngoài Ngọc Linh, Bảo Anh, 4 học sinh khác cũng tham gia thực hiện dự án là Nguyễn Thuỳ Minh Thanh (Trường Quốc tế Hà Nội), Dương Bảo Nam, Trần Thái Sơn và Hoàng Đăng Khánh (Trường song ngữ DGS). Tất cả đều dùng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai, được cha mẹ nuôi dưỡng tình yêu với di sản văn hoá Việt từ năm 12-13 tuổi.
Dù đã làm quen với nghiên cứu di sản, 6 học sinh vẫn gặp nhiều khó khăn khi tìm hiểu về bài chòi. Khối lượng tài liệu cần đọc khổng lồ, lại không có không gian sinh hoạt - diễn xướng thực tế, phải xem bài chòi qua các băng ghi hình, phần nào hạn chế việc cảm nhận sâu.
Chưa kể, ngôn ngữ dùng trong bài chòi là ngôn ngữ cổ của người miền Trung, không dễ dàng hiểu và lý giải với những học sinh sinh ra, lớn lên ở Hà Nội.
Thái Sơn và Bảo Nam - hai người phụ trách khâu nghiên cứu và phát triển của dự án - cho biết tài liệu về bài chòi vừa nhiều lại vừa thiếu. Nhiều ở nội dung diễn xướng, lời ca, thiếu ở việc giải mã ý nghĩa của từng thẻ bài, từ hình vẽ đến tên gọi.

Nhóm học sinh trong chuyến thực địa tại Quy Nhơn (Ảnh: NVCC).
Mỗi thẻ bài lại có những biến thể khác nhau. Làm sao để tìm về cái gốc, làm sao để chắt lọc ra những tinh tuý trong từng biến thể, làm sao để rút ngắn lại khoảng cách giữa các ký hiệu nghệ thuật thị giác dân gian cổ với thẩm mỹ hiện đại? “Đó là khó khăn lớn nhất của chúng em”, Sơn nói.
Song, tìm ra lời giải của những câu hỏi trên cũng là lúc nhóm học sinh có đáp án cho vấn đề đặt ra ban đầu. Các em chọn khai thác một khía cạnh rất nhỏ nhưng giàu tính biểu trưng của bài chòi, đó là hình vẽ trên mỗi thẻ bài. Ngôn ngữ tạo hình mộc mạc, đơn giản không chỉ mang tính minh hoạ mà còn phản ánh lịch sử văn hoá, tinh thần và đời sống sinh hoạt của người miền Trung qua nhiều thế kỷ.
“Lối đi mềm” từ chiếc lót cốc
Thời gian từ lúc các em tìm ra chiếc chìa khóa mở cánh cửa đưa bài chòi bước vào đời sống đến lúc cầm sản phẩm trên tay là 1 năm. Trong 365 ngày đó, các em sửa phác thảo thiết kế cả trăm lần và tranh luận không ngừng về việc sẽ thể hiện phác thảo đó trên sản phẩm gì.
Ý tưởng lúc đầu của nhóm là làm nhiều sản phẩm lưu niệm khác nhau, bao gồm cả ví, túi xách. Nhưng mục đích cuối cùng của sản phẩm lại không phải là bán hàng mà là lan toả di sản. Cuối cùng, sau nhiều thảo luận, nhóm chọn một sản phẩm duy nhất là lót cốc.
Lót cốc dễ làm, phù hợp cho người khuyết tật gia công, tính ứng dụng cao, nhỏ gọn, giá thành rẻ, tiện làm quà tặng. Điều quan trọng hơn cả là hầu hết các quán cà phê dành cho giới trẻ đều dùng lót cốc.



“Văn hoá cà phê trong giới trẻ đang phát triển rất mạnh. Các bạn trẻ còn có thói quen chụp ảnh trong tiệm cà phê. Chiếc lót cốc sẽ đi vào mỗi khung hình, lên mạng xã hội và lan tỏa ra cộng đồng”, Ngọc Linh chia sẻ về lý do dùng chiếc lót cốc để làm “lối đi mềm” đưa nghệ thuật bài chòi bước chân vào không gian của người trẻ hiện đại.
Nếu lối đi ấy thành công, bài chòi sẽ hiện diện cùng nhịp sống của người trẻ, can dự một cách tự nhiên vào sinh hoạt văn hoá thường nhật của họ. Đặt một tách cà phê lên chiếc lót cốc, người trẻ sẽ không chỉ nhìn thấy di sản, chạm vào di sản mà còn có thể đối thoại, trò chuyện với di sản trong một khoảnh khắc tò mò bất chợt nào đó, rằng những họa tiết kia là gì, từ đâu đến, có ý nghĩa gì đặc biệt.
Là người tư vấn cho dự án, TS Phan Phương Anh - giảng viên Khoa Nhân học và Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội - cho biết, bà bất ngờ trước ý tưởng đưa bài chòi vào chiếc lót cốc của nhóm học sinh.
“Lâu nay, chúng ta thường quan tâm tới di sản ở lớp vinh danh, ít ai thực hiện chương trình hành động ở cấp cộng đồng, nơi di sản sống và sinh sôi trong đó. Nhưng việc thực hành di sản trong cộng đồng không dễ dàng.
Giới trẻ, đặc biệt giới trẻ đô thị, dường như đã bị đứt đoạn với di sản. Các bạn học trường tư, trường quốc tế có khi hiểu biết về hệ thống chính trị ở Mỹ hay văn hoá Anh còn hơn cả Việt Nam. Vậy phải làm thế nào?
Việc đưa di sản bài chòi vào chiếc lót cốc, để từ chiếc lót cốc tìm đường xâm nhập vào văn hoá cà phê của giới trẻ là một ý tưởng thú vị, và chỉ có người trẻ mới nghĩ ra được”, TS Phương Anh bày tỏ.

Những khách hàng đầu tiên của chiếc lót cốc di sản (Ảnh: NVCC).
Sự kiện ra mắt và giới thiệu sản phẩm chiếc lót cốc của nhóm học sinh YCHI đã diễn ra vào đêm Noel, tại Quy Nhơn, Gia Lai - cái nôi của bài chòi. Các em đặt tên cho sự kiện là Threads of life (tạm dịch: Sợi chỉ di sản).
Nhút nọc, Tứ móc, Ngũ trọc, Sáu ghe, Tám dừng, Lục chạng - những thẻ bài quen thuộc lần đầu tiên tái sinh trong một nhân dạng mới, một đời sống mới. Mỗi hoạ tiết được thực hiện tỉ mỉ bằng chỉ thêu trắng trên nền vải tái chế xanh. Sợi chỉ vừa là phương tiện hữu hình chuyển thể di sản, vừa là sự kết nối vô hình giữa quá khứ với hiện tại, giữa di sản với thế hệ tương lai.


Chứng kiến hành trình của 6 học sinh tuổi 15 từ ngày đầu tiên gặp gỡ trong vườn tái chế đến ngày cầm trên tay bộ sản phẩm lót cốc, bà Nguyễn Thị Thanh Nga xúc động. Trước khi gặp nhóm học sinh, bà Nga luôn nghĩ rằng, bảo tồn và phát huy di sản là câu chuyện của Nhà nước. Nhưng giờ đây, bà đã có một hướng đi mới, đó là dùng chính văn hoá di sản để tạo ra sinh kế cho người khuyết tật, và ngược lại, dùng sinh kế để nuôi dưỡng di sản bền lâu.
Dự án Sợi chỉ di sản đã giành giải danh dự cuộc thi Tiếng nói Thanh thiếu niên thế giới 2024 (Next Generation Foresight Practitioners - Young Voices), hạng mục SDG 8 (Đảm bảo việc làm tốt và tăng trưởng kinh tế bền vững - một trong 17 Mục tiêu Phát triển bền vững của Liên hợp quốc).

























