Bộ trưởng Tư pháp chia sẻ về “lời hiệu triệu” cho cuộc cải cách thể chế
(Dân trí) - Theo Bộ trưởng Nguyễn Hải Ninh, Nghị quyết số 66 của Bộ Chính trị là cơ sở chính trị quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền ra nhiều quyết sách chiến lược, chưa có tiền lệ trong xây dựng pháp luật.
Chia sẻ với báo chí, Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Hải Ninh khẳng định sau gần một năm triển khai, Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đã tạo được chuyển biến rõ nét với nhiều nội dung đột phá trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật.
Cơ sở chính trị của những quyết sách chiến lược, chưa có tiền lệ
Những kết quả này từ việc triển khai Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật có ý nghĩa như thế nào trong việc tạo ra cuộc cải cách thể chế mang tính bước ngoặt, thưa Bộ trưởng?
- Ngay sau khi Nghị quyết số 66 được ban hành, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt nội dung của Nghị quyết với sự tham gia của hơn 1,5 triệu cán bộ, đảng viên với hình thức trực tiếp và trực tuyến tới 37.000 điểm cầu ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, cơ quan, đơn vị trên cả nước. Đảng ủy Quốc hội ban hành kế hoạch triển khai, Chính phủ cũng có chương trình hành động với việc xác định lộ trình cụ thể cho từng nhiệm vụ.
Cùng với đó, tất cả 22 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành chương trình hoặc kế hoạch triển khai thực hiện nghị quyết.

Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Hải Ninh (Ảnh: Hồng Phong).
Các cơ quan đã nỗ lực, trách nhiệm đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, đáp ứng yêu cầu sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, xây dựng và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ vướng mắc để khơi thông nguồn lực cho phát triển đất nước.
Nghị quyết số 66 là cơ sở chính trị quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền ra nhiều quyết sách chiến lược, chưa có tiền lệ trong công tác xây dựng pháp luật, xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, đưa thể chế từ “điểm nghẽn của điểm nghẽn” thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, mở đường cho kiến tạo phát triển.
Một điểm đáng chú ý là chỉ riêng trong năm 2025, Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013; 99 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật - một số lượng kỷ lục các dự án, dự thảo luật, nghị quyết.
Chính phủ đã ban hành 377 nghị định, nghị quyết quy phạm pháp luật; các bộ, ngành đã soạn thảo, trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền 1.404 văn bản - nhiều nhất trong cả nhiệm kỳ; các địa phương đã ban hành 13.000 văn bản quy phạm pháp luật.
Có thể khẳng định Nghị quyết số 66 đánh dấu bước đột phá chiến lược trong đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, thực sự là “lời hiệu triệu” cho một cuộc cải cách thể chế sâu sắc, góp phần hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.
Việc triển khai nghị quyết đã tác động toàn diện và mạnh mẽ tới công tác hoàn thiện thể chế, pháp luật của cả hệ thống chính trị từ Trung ương tới địa phương, được các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, đông đảo tầng lớp Nhân dân, đội ngũ luật gia, luật sư, cộng đồng doanh nghiệp đồng tình, đón nhận và hưởng ứng.
Vậy bên cạnh những kết quả nổi bật ấy, theo Bộ trưởng, cần lưu ý những hạn chế nào để các chủ trương trong Nghị quyết số 66 có thể tạo đột phá, đưa thể chế trở thành nguồn lực cạnh tranh quốc gia bền vững?
- Bên cạnh những kết quả đạt được, việc xây dựng chương trình, kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 66 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 140 của Chính phủ tại một số bộ, ngành, địa phương còn chậm.
Công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật có nơi, có chỗ chưa được quan tâm đúng mức. Còn tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh.

Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Hải Ninh báo cáo tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật (Ảnh: Bộ Tư pháp).
Cùng với đó, hệ thống pháp luật hiện nay còn thiếu một thiết kế tổng thể để đáp ứng những yêu cầu đặt ra trong tình hình mới, đặc biệt là những yêu cầu đặt ra từ phát triển kinh tế - xã hội, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và đổi mới mô hình quản trị quốc gia.
Ngoài ra, công tác tổ chức thi hành pháp luật vẫn là khâu yếu. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách ở một số cơ quan, đơn vị còn mang tính hình thức, chưa linh hoạt theo sát các vấn đề dư luận xã hội quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội.
Ứng dụng chuyển đổi số ở một số cơ quan chưa được đầu tư đồng bộ, hạ tầng công nghệ và cơ sở dữ liệu pháp luật một số nơi chưa hoàn thiện, chưa thuận lợi cho việc tra cứu, xử lý thông tin…
Xây dựng “Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật trong kỷ nguyên mới”
Năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và cũng là năm bản lề trong việc tiếp tục triển khai Nghị quyết số 66. Theo Bộ trưởng, đâu là những trọng tâm cần ưu tiên thực hiện trong năm 2026?
Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hiện thực hóa các nghị quyết của Đảng. Trọng tâm ưu tiên hàng đầu là tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để rà soát, thể chế hóa ngay các chủ trương lớn nêu trong văn kiện Đại hội XIV và 9 nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, bám sát Chương trình công tác năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật.
Song song với đó, cần tập trung xây dựng “Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật trong kỷ nguyên mới” tiến tới mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật với cấu trúc hợp lý, đầy đủ, dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, ổn định.

Thủ tướng Phạm Minh Chính trao Huân chương Lao động hạng Nhất cho Bộ Tư pháp (Ảnh: Phương Mai).
Việc xây dựng các định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm cũng cần ưu tiên thực hiện, bảo đảm tính chủ động, linh hoạt và thích ứng với yêu cầu của thực tiễn trong kỷ nguyên mới.
Cũng trong năm 2026, cần tập trung sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và xử lý các văn bản được điều chỉnh bởi nghị quyết của Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo cơ chế đặc biệt, xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật, bảo đảm hoàn thành trước ngày 1/3/2027.
Một nhiệm vụ khác là quan tâm, đầu tư về kỹ thuật lập pháp và soạn thảo văn bản theo hướng chuyên nghiệp, khoa học, khả thi, hiệu quả.
Tập trung hoàn thiện thể chế và thực hiện hiệu quả hoạt động hợp nhất văn bản cũng cần được ưu tiên. Việc hợp nhất văn bản cần đổi mới mạnh mẽ theo hướng văn bản hợp nhất là căn cứ chính thức trong viện dẫn và áp dụng pháp luật; được trình cơ quan, người có thẩm quyền đồng thời với văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung
Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật; xây dựng Đề án dữ liệu lớn về pháp luật; chuyển đổi số toàn diện trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giải đáp pháp luật.
Đi kèm với nhiệm vụ này là phát triển và vận hành hiệu quả Cổng Pháp luật quốc gia trong thông tin chính sách, pháp luật; kênh tương tác giữa Nhà nước và người dân, doanh nghiệp trên môi trường số; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật, tạo lập diễn đàn hiến kế về hoàn thiện thể chế trên môi trường số.
Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!




















