DNews

Hành trình cuối cùng của Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng

Hằng Nguyễn

(Dân trí) - Từ chí sĩ Duy Tân kiên trung đến Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Huỳnh Thúc Kháng để lại dấu ấn sâu đậm trong buổi đầu giữ chính quyền non trẻ, trước khi khép lại năm 1947.

Hành trình cuối cùng của Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng

Tháng 5/1946, trước khi rời Hà Nội sang Pháp đàm phán, Chủ tịch Hồ Chí Minh nắm tay cụ Huỳnh Thúc Kháng và dặn: "Tôi đi vắng, ở nhà mọi việc giao cho cụ. Dĩ bất biến, ứng vạn biến", theo tư liệu từ "Hồ Chí Minh toàn tập". 

Trong những ngày đầy sóng gió ấy, vị chí sĩ Duy Tân năm nào nay trở thành người chèo lái đất nước, với cương vị Quyền Chủ tịch nước kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đó cũng là dấu ấn lớn nhất trong chặng đường cuối cùng của Huỳnh Thúc Kháng - hành trình từ một chí sĩ yêu nước bước vào chính trường, để khép lại cuộc đời cách mạng một năm sau đó.

Chí sĩ bước ra từ Phong trào Duy Tân

Huỳnh Thúc Kháng sinh năm 1876 tại Tiên Phước, Quảng Nam, trong một gia đình nho học. Ông lớn lên trong bối cảnh đất nước mất độc lập, dân tộc chìm trong ách thực dân phong kiến. Ngay từ thời niên thiếu, Huỳnh Thúc Kháng đã sớm bộc lộ tư chất thông minh, học rộng, đỗ tiến sĩ năm 1904 khi mới 28 tuổi. Nhưng thay vì chọn con đường quan lộ như nhiều sĩ tử khác, ông rẽ sang con đường làm cách mạng, cứu nước đầy gian truân.

Cùng với Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng trở thành một trong những ngọn cờ tiêu biểu của phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ. Ông mở trường, viết sách, hô hào canh tân đất nước, chấn hưng dân trí, cải cách xã hội. Khi thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, ông bị bắt và bị đày ra Côn Đảo suốt 13 năm. Trong chốn lao tù khắc nghiệt, chí khí Huỳnh Thúc Kháng càng thêm bền bỉ. Ông học tập, nghiên cứu, nuôi dưỡng khát vọng độc lập và trở thành biểu tượng của tinh thần bất khuất.

Ra tù năm 1921, Huỳnh Thúc Kháng không lui về ở ẩn mà tiếp tục dấn thân. Ông tham gia Viện Dân biểu Trung Kỳ, sáng lập báo Tiếng Dân - một trong những tờ báo yêu nước có ảnh hưởng lớn, truyền bá tư tưởng khai dân trí và giữ vững tinh thần dân tộc. 

Hành trình cuối cùng của Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng - 1

Cụ Huỳnh Thúc Kháng và báo Tiếng Dân (Ảnh: Tư liệu).

Ngay sau sự kiện phát xít Nhật đảo chính Pháp, dựng nên chính phủ Trần Trọng Kim và trao trả thứ "độc lập giả hiệu", cụ Huỳnh Thúc Kháng đã khước từ lời mời cộng tác của vua Bảo Đại cũng như sự vận động của Hoàng thân Cường Để. Trước khi ra Hà Nội theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ từng bày tỏ mong muốn đất nước có được những người lãnh đạo sáng suốt trong thời điểm quyết định vận mệnh dân tộc, và sau này nhớ lại, cụ nói: "Quả nhiên Việt Minh ra đời như lòng tôi đã cầu nguyện".

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, dù tuổi đã cao, khi biết Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, cụ Huỳnh nhận lời ra Thủ đô với ý định ban đầu chỉ "gặp Cụ Hồ để bày tỏ một vài ý kiến". Nhưng ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên, cụ đã bị thuyết phục ở lại cộng tác với chính quyền cách mạng, không chỉ bởi uy tín cá nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn bởi đường lối chính trị vì đại nghĩa dân tộc mà Người theo đuổi.

Cuộc chuyển giao trọng yếu tại Bộ Nội vụ

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Chính phủ lâm thời được thành lập. Ban đầu, Bộ Nội vụ do ông Võ Nguyên Giáp phụ trách. 

Tuy nhiên, theo thỏa thuận ngày 23/12/1945 giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và các đảng phái đối lập, người đứng đầu hai bộ quan trọng là Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng phải là nhân sĩ trung lập, không tham gia đảng phái chính trị nào. Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời cụ Huỳnh Thúc Kháng từ Trung Bộ ra Hà Nội nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, thay đồng chí Võ Nguyên Giáp được phân công nhiệm vụ khác.

PGS.TS Văn Tất Thu nhận định: "Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một chí sĩ yêu nước tiền bối, là bậc đại khoa, có danh vọng và uy tín lớn. Việc cụ tham gia Chính phủ và giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ vừa giúp Chính phủ có thêm một nhân sĩ tài năng, đức độ, vừa góp phần củng cố sự ủng hộ mạnh mẽ của quần chúng nhân dân và tăng thêm uy tín của Chính phủ". 

Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã chỉ đạo đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Bộ, ban hành nhiều nghị định, thông tư nhằm hoàn thiện cơ cấu chính quyền cách mạng và chế độ công chức, công vụ. 

Hành trình cuối cùng của Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng - 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (Ảnh tư liệu).

Quyền Chủ tịch nước và lời dặn "dĩ bất biến, ứng vạn biến"

Tháng 5/1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán, Huỳnh Thúc Kháng được giao trọng trách giữ quyền Chủ tịch nước. Trước khi đi, Hồ Chí Minh để lại lời dặn nổi tiếng: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến". Trong những tháng ngày đặc biệt ấy, Huỳnh Thúc Kháng trở thành người chèo lái đất nước, đối diện với những sóng gió từ cả bên ngoài lẫn bên trong.

Ở tuổi 70, trên cương vị Quyền Chủ tịch nước, Huỳnh Thúc Kháng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã mang hết tâm sức gìn giữ chủ quyền, ổn định chính trị, ngăn chặn âm mưu phá hoại của các thế lực phản động. Điển hình là vụ án Ôn Như Hầu do một số phần tử Việt Nam Quốc dân Đảng chủ mưu. Với tinh thần thẳng thắn, công minh, cụ đã kiên quyết trừng trị kẻ phạm pháp, bảo vệ tính mạng, tài sản nhân dân và củng cố khối đoàn kết dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá cao đóng góp ấy: "Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh, quyền Chủ tịch, sự săn sóc giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hiệp lực của quốc dân mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ". 

Hành trình cuối cùng của Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng - 3

Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Quảng Nam (Ảnh: Ngô Linh).

Tháng 11/1946, trước nguy cơ chiến tranh toàn quốc, Quốc hội khóa I tiến hành cải tổ Chính phủ Liên hiệp. Dù tuổi cao, sức yếu, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn ở lại Chính phủ theo lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Lấy đại nghĩa mà lưu cụ". Không lâu sau, với uy tín của một bậc đại chí sĩ, cụ được cử thay mặt Chính phủ đi kinh lý miền Trung, trực tiếp động viên đồng bào, chiến sĩ chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1946), cụ viết thư kêu gọi đồng bào phụ lão kháng chiến, nhấn mạnh: "Hãy tin tưởng vào cụ Hồ Chí Minh, bậc yêu nước đại chí sĩ, kết chặt chẽ một khối quyết sống mái với kẻ thù". Trên đường công tác, cụ không ngừng kêu gọi toàn dân đoàn kết kháng chiến, kiến quốc.

Tháng 4/1947, tại Quảng Ngãi, lâm bệnh nặng, cụ gửi bức điện cuối cùng tới Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Bốn mươi năm ôm ấp Độc lập và Dân chủ, nay nước đã được độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả...".

Ngày 21/4/1947, Huỳnh Thúc Kháng qua đời, thọ 71 tuổi. Được tin đau buồn, Hồ Chí Minh viết bài thơ viếng bằng chữ Hán, tự dịch sang tiếng Việt, bày tỏ nỗi tiếc thương khôn nguôi.

Người cũng gửi thư toàn quốc ca ngợi: "Cụ Huỳnh là người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao… Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập".