Từ thiếu lương thực đến cường quốc xuất khẩu nông sản
(Dân trí) - Từ một quốc gia bị tàn phá bởi chiến tranh, đối mặt với nạn đói và nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã ngược dòng ngoạn mục, trở thành cường quốc xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới.
Hàng loạt kỷ lục mới được thiết lập
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025, bất chấp thiên tai khốc liệt và biến động thị trường, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam vẫn đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước và là mức cao nhất từ trước đến nay.
Không chỉ xuất khẩu, sản xuất nông nghiệp cũng ghi nhận nhiều điểm sáng. Sản lượng lúa gạo đạt khoảng 43,57 triệu tấn; chăn nuôi đạt khoảng 8,67 triệu tấn thịt các loại; thủy sản đạt 9,95 triệu tấn.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) Phùng Đức Tiến nhấn mạnh: Năm 2025, ngành nông nghiệp phải đối mặt với tác động đặc biệt nghiêm trọng của thiên tai. Thiệt hại do bão, lũ ước tính lên tới khoảng 100.900 tỷ đồng, ảnh hưởng nặng nề đến đời sống dân sinh, sản xuất và nền kinh tế nói chung.

Công nhân đóng gói chuối xuất khẩu đi Nhật Bản và Trung Quốc tại nhà máy của Công ty Thaco Agri (Ảnh: Trần Mạnh).
Đặc biệt, xuất siêu toàn ngành ước đạt gần 21 tỷ USD, tăng gần 17% và cao hơn mức xuất siêu chung của cả nền kinh tế. Những kết quả này cho thấy bản lĩnh, năng lực điều hành và sức chống chịu của ngành nông nghiệp, tiếp tục khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế trong những giai đoạn khó khăn nhất.
Toàn ngành có 10 mặt hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong đó có 3 nhóm hàng vượt mốc 8 tỷ USD gồm: Gỗ và sản phẩm gỗ (17,32 tỷ USD), cà phê (8,57 tỷ USD) và rau quả (8,6 tỷ USD).
Bước sang năm 2026, Bộ NN&MT đặt mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 73-74 tỷ USD.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, trọng tâm không chỉ là tăng trưởng mà là phải tăng trưởng có chất lượng, bền vững và có khả năng chống chịu trước biến động toàn cầu. Theo đó, ngành Nông nghiệp sẽ tập trung triển khai đồng bộ chuỗi giải pháp từ vùng nguyên liệu đến thị trường.
Cùng với đó, ngành đẩy mạnh chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm, ưu tiên đầu tư công nghệ bảo quản, chế biến, đóng gói; phát triển các sản phẩm tinh chế, tiện lợi, sẵn sàng tiêu dùng, đồng thời tận dụng phụ phẩm để hình thành các chuỗi giá trị mới.
Giảm chi phí logistics được xem là giải pháp “then chốt” để gia tăng giá trị xuất khẩu, thông qua phát triển kho lạnh, chuỗi lạnh, trung tâm logistics vùng và tối ưu hóa quy trình vận tải, thông quan.

Bên cạnh đó, ngành Nông nghiệp tập trung nâng cao năng lực tiếp cận thị trường, xây dựng thương hiệu quốc gia và ngành hàng, chuyển mạnh từ xuất khẩu nguyên liệu sang các sản phẩm có giá trị gia tăng và câu chuyện thương hiệu rõ ràng.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2026 được xác định là năm bản lề, đặt nền tảng cho giai đoạn phát triển 2026 - 2030. Việt Nam hướng tới vị trí Top 15 quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới, với khoảng 40% sản phẩm là hàng chế biến.
Một lược sử nông nghiệp Việt Nam
Để thấu hiểu được tầm vóc "thần kỳ" của sự phát triển nông nghiệp Việt Nam, cần phải nhìn lại xuất phát điểm rất thấp của nền kinh tế trong giai đoạn đầu sau thống nhất đất nước. Giai đoạn 1976-1980, nền nông nghiệp Việt Nam vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp. Tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về các hợp tác xã, và người nông dân làm việc theo công điểm, thiếu động lực để tăng năng suất lao động.
Với dân số tăng nhanh nhưng sản lượng lương thực dậm chân tại chỗ, Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu đói triền miên. Trong những năm này, quốc gia phải nhập khẩu trung bình gần 1,6 triệu tấn gạo xay xát mỗi năm để duy trì mức sống tối thiểu cho người dân. Nông nghiệp thời điểm đó chiếm tới hơn 40% GDP và sử dụng 70% lực lượng lao động nhưng vẫn không làm ra đủ lương thực để nuôi sống toàn bộ dân số.

Công nhân cạo mủ đang tập hợp mủ cao su tại Công ty cao su Bà Rịa - Vũng Tàu (Ảnh: Trần Mạnh).
Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (thường gọi là Khoán 10) vào năm 1988 được coi là "chiếc đũa thần" đánh thức tiềm năng nông nghiệp Việt Nam khi giao đất cho hộ nông dân sử dụng ổn định, xóa bỏ cơ chế thu mua bắt buộc và giá nông sản được vận hành theo cơ chế thị trường, tạo động lực cho người sản xuất.
Tác động của Khoán 10 là tức thì và mạnh mẽ. Tháng 11/1989, Việt Nam xuất khẩu lô hàng gạo xay xát đầu tiên và rất nhanh sau đó, từ một quốc gia nhập khẩu triền miên trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 3 thế giới. Sự kiện này không chỉ chấm dứt nạn đói trong nước mà còn đánh dấu sự khởi đầu của kỷ nguyên hội nhập nông nghiệp Việt Nam ra thế giới.
Sản lượng lúa tăng từ 19,2 triệu tấn (1990) lên 32,5 triệu tấn (2000), đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Xuất khẩu gạo duy trì mức 4-7 triệu tấn/năm. Sau thành công của lúa gạo, Việt Nam chứng kiến sự mở rộng mạnh mẽ sang các cây công nghiệp và bắt đầu hình thành các vùng chuyên canh lớn.
Ở Tây Nguyên, đây là giai đoạn bùng nổ diện tích trồng cà phê, được thúc đẩy bởi giá cà phê thế giới tăng cao và chính sách di dân kinh tế mới. Việt Nam nhanh chóng vươn lên trở thành nước sản xuất cà phê Robusta lớn nhất thế giới.
Với ngành thủy sản, giai đoạn này bắt đầu có sự chuyển dịch từ đánh bắt tự nhiên sang nuôi trồng (đặc biệt là tôm sú), đặt nền móng cho ngành công nghiệp thủy sản tỷ đô sau này.
Bắt đầu từ những năm 2000 trở đi, nông nghiệp Việt Nam gắn liền với các sự kiện hội nhập lớn của đất nước. Trong đó đặc biệt quan trọng là Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) năm 2000 và gia nhập WTO năm 2007.
Hiệp định BTA đã mở toang cánh cửa vào thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới. Xuất khẩu thủy sản sang Mỹ tăng trưởng phi mã, từ mức vài chục triệu USD lên hơn 1 tỷ USD vào năm 2010. Cá tra và tôm Việt Nam bắt đầu chiếm lĩnh thị phần, dù phải đối mặt với các vụ kiện bán phá giá gay gắt.
Năm 2007, sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đã giúp nông sản Việt Nam tiếp cận thị trường toàn cầu với thuế suất ưu đãi, nhưng cũng đặt ra thách thức về tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS) và rào cản kỹ thuật (TBT). Cũng trong thời gian này, xuất hiện thêm nhiều ngành hàng nông lâm sản mới gia nhập câu lạc bộ xuất khẩu tỉ USD bên cạnh gạo và cà phê như hạt điều, hạt tiêu, cao su, tôm đông lạnh, cá tra, chế biến gỗ… Trong đó có nhiều ngành hàng nhanh chóng vươn lên hàng đầu thế giới.
Hướng tới xuất khẩu công nghiệp nông nghiệp
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, nhiều ngành công nghiệp chế biến chế tạo phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu (nhập siêu hoặc thặng dư thấp), nông nghiệp luôn đóng vai trò là ngành xuất siêu chủ lực, mang về nguồn ngoại tệ thực sự cho đất nước.
Trong các giai đoạn khủng hoảng (như khủng hoảng tài chính 2008-2009 hay đại dịch COVID-19 năm 2020-2021), khi các nhà máy tại khu công nghiệp đóng cửa, dòng lao động di cư đã quay trở về nông thôn. Khi đó, nông nghiệp đã tiếp nhận và đảm bảo sinh kế cho lực lượng lao động này, ngăn chặn các bất ổn xã hội. Việt Nam chưa bao giờ phải lo lắng về an ninh lương thực ngay cả khi chuỗi cung ứng thực phẩm toàn cầu bị đứt gãy. "Cái bụng no" của 100 triệu dân là nền tảng cho sự ổn định chính trị - xã hội.
Kể từ năm 2020 đến nay, nông nghiệp Việt Nam đối mặt với những thử thách chưa từng có: Đại dịch COVID-19 và hậu quả, đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, xung đột địa chính trị và biến đổi khí hậu cực đoan.

Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, Việt Nam từng bước vươn lên thành một cường quốc xuất khẩu nông nghiệp nhiều mặt hàng (Ảnh: Kim Tuyền).
Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn nông nghiệp tỏa sáng rực rỡ nhất. Trong khó khăn, nông nghiệp tiếp tục khẳng định là trụ đỡ cho nền kinh tế. Khi các ngành công nghiệp và dịch vụ suy giảm, nông nghiệp vẫn duy trì tăng trưởng dương, đảm bảo an ninh lương thực và an sinh xã hội.
Dù vậy, trong suốt thời gian dài, xuất khẩu nông sản của Việt Nam chủ yếu là hàng thô có giá trị gia tăng thấp trong khi nguồn lực về đất đai và năng suất tiến dần tới hạn. Bên cạnh những thành tựu rực rỡ, nền nông nghiệp Việt Nam đang đối diện với những giới hạn tăng trưởng nghiêm trọng cần phải vượt qua.
Đầu tiên là vấn đề đất đai manh mún, rào cản của nền nông nghiệp lớn. Quy mô đất sản xuất nông nghiệp bình quân mỗi hộ chỉ khoảng 0,4 ha (ở miền Bắc và miền Trung còn thấp hơn). Đất đai bị chia thành nhiều mảnh nhỏ, phân tán. Hệ quả là khó áp dụng cơ giới hóa đồng bộ, khó kiểm soát quy trình canh tác (VietGAP, GlobalGAP) một cách đồng nhất, khó truy xuất nguồn gốc và khó hình thành các vùng nguyên liệu lớn cho chế biến công nghiệp.
Trong khi đó, chi phí logistics của nông nghiệp Việt Nam cao một cách bất hợp lý, làm giảm sức cạnh tranh. Ngoài ra, khoảng 70-80% lượng nông sản xuất khẩu chưa qua chế biến sâu.
Các thị trường nhập khẩu (đặc biệt là EU) đang dựng lên các hàng rào kỹ thuật mới về môi trường như Quy định chống phá rừng (EUDR) đối với cà phê, gỗ, cao su; hay Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM). Nền nông nghiệp thâm dụng tài nguyên, phát thải cao của Việt Nam buộc phải chuyển đổi xanh nếu không muốn bị loại khỏi thị trường.
Hướng tới năm 2030, nông nghiệp Việt Nam xác định chiến lược then chốt là giảm tỷ trọng xuất khẩu thô, nâng tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu lên mức 30-40% gắn liền với xây dựng thương hiệu.
Hành trình 40 năm của nông nghiệp Việt Nam là một câu chuyện đầy cảm hứng về sự nỗ lực vượt khó và khát vọng vươn lên. Từ một quốc gia thiếu đói, Việt Nam đã xác lập vị thế vững chắc trên bản đồ nông sản thế giới với hàng loạt mặt hàng đứng Top 1, Top 2 toàn cầu. Nông nghiệp không chỉ nuôi sống 100 triệu dân, là trụ đỡ của nền kinh tế trong mọi biến cố, mà còn là "đại sứ" mang thương hiệu Việt Nam ra thế giới.
Và không chỉ dừng lại ở một cường quốc xuất khẩu nông sản, sản phẩm Việt Nam xứng đáng được người tiêu dùng nước ngoài nhận biết, thực phẩm Việt xứng đáng được ghi dấu ấn đậm hơn trong bếp ăn của thế giới. Tương lai của nông nghiệp Việt Nam nằm ở Công nghệ cao, Chế biến sâu và Chuyển đổi Xanh. Và đã đến lúc, Việt Nam đủ tiềm lực và khả năng để xuất khẩu mô hình nông nghiệp ra toàn cầu, như lời của Tổng bí thư Tô Lâm từng kỳ vọng.
























