(Dân trí) - Một trong những dấu ấn của công tác xây dựng pháp luật, theo Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Hải Ninh, là chuyển mạnh tư duy xây dựng pháp luật từ “thiên về quản lý” sang “kiến tạo phát triển”.
Đây là một trong những định hướng quan trọng khi xây dựng pháp luật trong nhiệm kỳ mới, được Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Hải Ninh nhấn mạnh khi trả lời phóng viên Dân trí nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.
Với vai trò “người gác cổng”, Bộ Tư pháp trong năm 2025 gánh vác khối lượng công việc khổng lồ nhưng đã hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

- Thưa Bộ trưởng, nhìn lại năm 2025, ngành Tư pháp đã có những bước đi quyết liệt để khẳng định vai trò là “người gác cổng” của hệ thống pháp luật, kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho phát triển đất nước. Nhìn lại chặng đường đã qua trong bối cảnh nhiều khó khăn và cả những việc chưa có tiền lệ, xin ông khái quát những kết quả nổi bật nhất của ngành.
Ngành Tư pháp trong năm 2025 đã hoàn thành nhiệm vụ với nhiều kết quả nổi bật, khẳng định rõ vai trò then chốt trong việc kiến tạo nền tảng pháp lý.
Thứ nhất, Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực tham mưu cho Đảng, Quốc hội và Chính phủ ban hành các chủ trương, định hướng lớn về hoàn thiện thể chế, pháp luật. Nổi bật là tham mưu ban hành Nghị quyết số 66 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, góp phần chuyển mạnh tư duy xây dựng pháp luật từ “thiên về quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số.

Bộ Tư pháp cũng đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội khóa XV ban hành Nghị quyết số 197, tạo cơ chế đặc biệt về tài chính, nguồn nhân lực nhằm tạo đột phá trong quy trình xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
Thứ hai, Bộ Tư pháp đã tham gia tích cực vào việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, chủ trì tổng hợp hơn 280 triệu lượt ý kiến góp ý của nhân dân, các cấp, các ngành về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp với tỷ lệ tán thành rất cao (99,75%).
Bộ cũng tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Nghị quyết số 190 quy định các nguyên tắc cơ bản để xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy Nhà nước, nhằm không tạo khoảng trống pháp lý, không làm gián đoạn hoạt động của cơ quan nhà nước, người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, chủ động, quyết liệt tổ chức thẩm định số lượng lớn văn bản quy phạm pháp luật trình Quốc hội, Chính phủ ban hành, trong đó có “chùm” các Nghị định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền…
Các đóng góp pháp lý nền tảng này đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Thứ ba, Bộ Tư pháp đã tham mưu đổi mới toàn diện quy trình xây dựng pháp luật với việc báo cáo Chính phủ trình Quốc hội thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Luật mới được ban hành đã đổi mới mạnh mẽ quy trình xây dựng pháp luật, đặt trách nhiệm chủ yếu đối với cơ quan trình dự án luật, đơn giản hóa thủ tục trong các bước, rút ngắn thời gian xây dựng văn bản; chú trọng nâng cao chất lượng xây dựng chính sách để làm cơ sở quy phạm hóa thành pháp luật. Qua đó, đã giúp đẩy nhanh việc thể chế hóa chủ trương của Đảng thành pháp luật và kiểm soát chặt chẽ hơn chất lượng công tác xây dựng pháp luật.
Bộ Tư pháp cũng đã đổi mới mạnh mẽ công tác thẩm định chính sách, pháp luật theo hướng thực chất, toàn diện, đi sâu đánh giá tác động kinh tế - xã hội, chi phí tuân thủ, tính khả thi và khả năng tổ chức thực hiện; kiên quyết không để các chính sách chưa chín, còn mâu thuẫn, thiếu căn cứ khoa học hoặc có biểu hiện lợi ích cục bộ được trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Việc này góp phần hạn chế tối đa tình trạng phải sửa đổi, bổ sung pháp luật nhiều lần trong thời gian ngắn, gây xáo trộn cho hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội.
Thứ tư, Bộ Tư pháp đã chủ động đề xuất cơ chế “ủy quyền lập pháp” để tháo gỡ “điểm nghẽn”, xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật.
Cùng với kết quả cơ bản hoàn thành tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật” trong năm 2025, rất nhiều cơ chế thí điểm, đặc thù được ban hành để giải quyết vấn đề cấp bách thực tiễn đặt ra, như các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số; việc thành lập Trung tâm tài chính quốc tế, vấn đề tài sản mã hóa…
Thứ năm, Bộ Tư pháp đã chú trọng nghiên cứu, tham mưu chiến lược, hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực, thông lệ quốc tế.
Trong thời gian ngắn, Bộ đã huy động lực lượng lớn chuyên gia, nhà khoa học xây dựng, hoàn thiện Đề án “Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, để trình cấp có thẩm quyền, nhằm xác lập cơ sở khoa học, chính trị cho việc xây dựng Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới từ những quyết sách chiến lược của Đại hội Đảng lần thứ XIV.
Thứ sáu, Bộ Tư pháp đã chú trọng nâng cao tính minh bạch, công khai, dễ tiếp cận của hệ thống pháp luật thông qua việc xây dựng và chính thức vận hành Cổng Pháp luật quốc gia và Hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật, góp phần đáp ứng tốt hơn nhu cầu phục vụ người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận chính sách, pháp luật trên môi trường số.
Có thể khẳng định, năm 2025 đánh dấu bước tiến vững chắc của ngành Tư pháp trong hoàn thành khối lượng công việc lớn với chất lượng cao, ghi dấu ấn đậm nét trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, qua đó tiếp tục củng cố vai trò trụ cột trong kiến tạo nền tảng pháp lý cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.


- Những kỳ họp Quốc hội gần đây, Bộ Tư pháp đã đảm nhận một khối lượng công việc khổng lồ khi chủ trì và thẩm định hàng loạt dự án luật quan trọng. Đặc biệt, trong bối cảnh cả nước nỗ lực thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy và sắp xếp lại giang sơn, Bộ đã ưu tiên nguồn lực và đổi mới quy trình thẩm định như thế nào để vừa đảm bảo tiến độ "thần tốc", vừa đảm bảo tính thống nhất, khơi thông mọi rào cản pháp lý cho công cuộc cải cách mang tính lịch sử này?
Trong nhiệm kỳ 2021-2025, các bộ, ngành đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua khối lượng nhiệm vụ lập pháp lớn nhất từ trước đến nay, với gần 180 dự án luật, dự thảo nghị quyết, riêng năm 2025 trình Quốc hội thông qua 99 dự án luật, nghị quyết.
Để đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế, pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thể chế, khơi thông nguồn lực phát triển đất nước, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, Bộ Tư pháp đã chủ động đổi mới, ưu tiên nguồn lực và triển khai đồng bộ các giải pháp.
Trước hết là hoàn thiện thể chế, pháp luật cho công tác thẩm định, tham mưu ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và Nghị định quy định chi tiết, biện pháp thi hành Luật này với nhiều đổi mới mạnh mẽ quy định về quy trình, nội dung thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Bộ Tư pháp cũng đổi mới quy trình, nâng cao chất lượng thẩm định. Dù số lượng văn bản cần thẩm định rất lớn và yêu cầu về thời gian rất khẩn trương, Bộ đã tổ chức công tác thẩm định một cách chủ động, quyết liệt, bảo đảm tiến độ, chất lượng.

Bên cạnh sự tham gia thẩm định bắt buộc của các bộ, Bộ Tư pháp còn mở rộng huy động ý kiến từ các chuyên gia, nhà khoa học trong các cuộc họp thẩm định.
Tạo cơ chế đặc thù và tăng cường nguồn lực cũng là giải pháp được Bộ triển khai.
Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp đó, chất lượng và tiến độ công tác thẩm định của Bộ Tư pháp đã được nâng cao rõ rệt.
- Vậy còn những hạn chế cần khắc phục trong giai đoạn tới là gì, thưa ông, nhằm hướng tới mục tiêu chuyển đổi tư duy từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, để luật ban hành không chỉ chặt chẽ mà còn khả thi và có sức sống lâu dài?
Để chuyển đổi từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, việc nhận diện rõ những hạn chế hiện tại là điều rất quan trọng. Thực tiễn cho thấy hệ thống pháp luật nước ta vẫn còn một số tồn tại cần tập trung khắc phục.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều tầng nấc, dẫn đến tình trạng cồng kềnh, phức tạp. Chất lượng của một số quy định pháp luật chưa theo kịp yêu cầu phát triển rất nhanh của thực tiễn; vẫn còn những quy định thiếu đồng bộ, chồng chéo…
Việc thực hiện quy định về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật một số nơi còn chưa nghiêm, tư duy xây dựng pháp luật vẫn còn nặng về tiền kiểm, chưa thực sự chú trọng thiết kế khuôn khổ pháp lý để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và phát triển.
Để bảo đảm các luật được ban hành chặt chẽ về kỹ thuật pháp lý, khả thi và có sức sống lâu dài, cần đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo, phát triển.

Luật tập trung quy định những vấn đề khung, những nguyên tắc cơ bản; các nội dung thường xuyên biến động trong thực tiễn thì giao Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương quy định cụ thể để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với yêu cầu quản lý, điều hành.
Cùng với nâng cao chất lượng công tác hoạch định chính sách, cần tăng cường tính ổn định và khả năng thích ứng của hệ thống pháp luật.

- Tổng Bí thư Tô Lâm từng quán triệt, để đất nước vươn mình phát triển mạnh mẽ, phải dứt khoát nói không với bất cứ hạn chế, bất cập nào trong thể chế, pháp luật; không thỏa hiệp với bất kỳ yếu kém nào trong thiết kế chính sách, soạn thảo pháp luật hay tổ chức thực thi. Yêu cầu này sẽ được ngành Tư pháp cụ thể hóa như thế nào trong giai đoạn tới, thưa Bộ trưởng?
Thực hiện Nghị quyết số 66 của Bộ Chính trị và chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, ngành Tư pháp luôn xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước; đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển.
Để cụ thể hóa tinh thần đó, ngành sẽ tập trung tham mưu hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực hiện nghiêm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Quy định số 178 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật.

Bộ Tư pháp sẽ nâng cao chất lượng xây dựng, thẩm định chính sách; kiên quyết loại bỏ tư duy cục bộ, lợi ích ngành, lợi ích nhóm; bảo đảm mỗi quy định pháp luật xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, lấy người dân, doanh nghiệp và lợi ích chung của đất nước làm trung tâm.
Đồng thời, đơn vị tiếp tục phối hợp rà soát toàn diện hệ thống pháp luật để kịp thời nhận diện và xử lý các “điểm nghẽn”, góp phần khơi thông nguồn lực, phục vụ phát triển.
Đổi mới công tác thẩm định theo hướng thực chất cũng là định hướng quan trọng được tập trung thời gian tới. Bộ Tư pháp kiên quyết không trình các hồ sơ chính sách, dự án, dự thảo chưa chín, chưa rõ, thiếu căn cứ khoa học hoặc tiềm ẩn rủi ro pháp lý.
Cùng với đó, Bộ sẽ đổi mới mạnh mẽ công tác xây dựng pháp luật, sắp xếp, kiện toàn các đơn vị xây dựng pháp luật theo hướng chuyên nghiệp; thí điểm xây dựng và áp dụng mô hình soạn thảo pháp luật tập trung, chuyên sâu; tách bạch rõ xây dựng chính sách và soạn thảo văn bản.

Với định hướng tăng cường kỷ luật, kỷ cương, kịp thời tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, ngành Tư pháp kiên quyết xử lý các quy định không phù hợp, ảnh hưởng đến người dân, doanh nghiệp và môi trường đầu tư, kinh doanh.
- Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đặt ra những yêu cầu rất cao về cải cách tư pháp, hoàn thiện thể chế và xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại. Bộ Tư pháp đã và đang triển khai những định hướng chiến lược nào trong chương trình hành động sắp tới, thưa Bộ trưởng?
Để đáp ứng các mục tiêu chiến lược đề ra tại Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Bộ Tư pháp xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách.
Thứ nhất, Bộ tập trung xây dựng “Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật trong kỷ nguyên mới” nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật có cấu trúc đồng bộ, minh bạch, khả thi, ổn định, tháo gỡ vướng mắc phát sinh từ thực tiễn, mở đường cho kiến tạo phát triển và khơi dậy mọi tiềm năng, tạo động lực mới cho phát triển.
Thứ hai là quan tâm, đầu tư về kỹ thuật lập pháp và soạn thảo văn bản theo hướng chuyên nghiệp, khoa học, khả thi, hiệu quả, hướng tới mục tiêu chuẩn hóa quy trình, nâng cao năng lực chuyên môn, trách nhiệm nghề nghiệp và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ tham mưu xây dựng pháp luật.

Thứ ba, tập trung hoàn thiện thể chế và thực hiện hiệu quả hoạt động hợp nhất văn bản. Theo đó, việc hợp nhất văn bản được đổi mới mạnh mẽ theo hướng văn bản hợp nhất là căn cứ chính thức trong viện dẫn và áp dụng pháp luật; được trình cơ quan, người có thẩm quyền đồng thời với văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung…
Việc này nhằm tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, công chức khi áp dụng pháp luật, góp phần thực hiện đúng chủ trương “lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm trong thiết kế chính sách”.
Thứ tư, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật; xây dựng Đề án dữ liệu lớn về pháp luật; chuyển đổi số toàn diện trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giải đáp pháp luật.
Cùng với đó là định hướng phát triển và vận hành hiệu quả Cổng Pháp luật quốc gia trong thông tin chính sách, pháp luật - kênh tương tác giữa Nhà nước và người dân, doanh nghiệp trên môi trường số; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật, tạo lập diễn đàn hiến kế về hoàn thiện thể chế trên môi trường số.
- Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!




















