Học sinh làm đẹp hồ sơ du học bằng nghiên cứu khoa học: Nên hay không?
Trong những năm gần đây, xu hướng học sinh trung học phổ thông (THPT) tham gia nghiên cứu khoa học ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt là đối với các bạn có mục tiêu du học và xin học bổng đại học ở các nước phát triển. Một hiện tượng đang khá phổ biến là học sinh cần phải có một bài báo khoa học được công bố trên tạp chí quốc tế (ISI, Scopus) để làm tăng sức cạnh tranh cho hồ sơ xin học bổng.
Tuy nhiên, đây có phải là một chiến lược phù hợp với thực tế của lứa tuổi THPT? Là người nghiên cứu lâu năm về chủ đề du học sinh, đồng thời cũng đã từng hướng dẫn nhiều học sinh THPT làm nghiên cứu khoa học, trong bài viết này, tôi sẽ phân tích các khía cạnh liên quan đến chủ đề kể trên.
Công bố bài báo: nên hay không?
Trước hết, không thể phủ nhận rằng việc tham gia nghiên cứu khoa học là một hoạt động đáng khuyến khích và có giá trị cao đối với học sinh THPT. Nghiên cứu giúp học sinh rèn luyện tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề, kỹ năng phân tích và trình bày – những trải nghiệm rất cần thiết trong môi trường học thuật quốc tế. Tuy nhiên, việc đặt mục tiêu công bố bài báo ở lứa tuổi này lại là một câu chuyện khác.
Quá trình để có một bài báo khoa học được công bố không hề đơn giản. Ngoài việc cần có ý tưởng nghiên cứu rõ ràng, học sinh phải trải qua các bước như thiết kế phương pháp, thu thập và xử lý dữ liệu, viết bài, chỉnh sửa, và cuối cùng là gửi bài đến tạp chí khoa học để trải qua quy trình phản biện. Quá trình phản biện này, trong trường hợp nhanh cũng phải mất từ 4-6 tháng; phổ biến hơn là từ 1 đến 2 năm – và đó là trong điều kiện bài không bị từ chối và phải gửi lại nơi khác.

Quá trình để có một bài báo khoa học được công bố không hề đơn giản (Hình minh họa tạo bởi AI).
Thực tế cho thấy, nếu một học sinh bắt đầu làm nghiên cứu từ đầu năm lớp 11, thời điểm tương đối hợp lý vì lớp 10 thường là giai đoạn học sinh cần tập trung vào học và thi chứng chỉ tiếng Anh hoặc chuẩn bị cho các kỳ thi tiêu chuẩn như SAT (kỳ thi chuẩn hóa được dùng để đánh giá năng lực học thuật và sự sẵn sàng vào đại học của học sinh trung học). Nghĩa là nhanh nhất cũng phải đến cuối năm lớp 11 thì học sinh mới có được bản thảo bài báo khoa học hoàn chỉnh. Giả sử quy trình phản biện diễn ra suôn sẻ, đến giữa hoặc cuối lớp 12 bài báo mới có thể được đăng. Tuy nhiên, các trường đại học trên thế giới thường yêu cầu nộp hồ sơ xin học và xin học bổng từ đầu lớp 12, nên bài báo này gần như không kịp để xuất hiện trong bộ hồ sơ ứng tuyển.
Rủi ro về đạo đức học thuật
Một điều quan trọng khác mà ít học sinh, phụ huynh và cả các trung tâm tư vấn du học để ý: thành viên hội đồng tuyển sinh của các trường đại học trên thế giới có nhiều người cũng là các giảng viên – hiểu rất rõ về quy trình xuất bản khoa học. Khi thấy một học sinh THPT có bài báo được công bố trên tạp chí quốc tế, điều đầu tiên họ đặt ra không phải là đánh giá cao, mà là câu hỏi về đạo đức học thuật: Liệu học sinh này thực sự là người làm nghiên cứu hay chỉ là người đứng tên? Bài báo có sự can thiệp của người lớn như thế nào? Có phải đây chỉ là cách để "làm đẹp hồ sơ" một cách thiếu trung thực?
Trong một số trường hợp, ngay cả khi học sinh thực sự tham gia nghiên cứu một cách nghiêm túc, họ vẫn có thể bị nghi ngờ do độ tuổi còn quá trẻ so với quy trình nghiên cứu và xuất bản thông thường. Những nghi ngờ này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của cả bộ hồ sơ xin học của học sinh.
Giải pháp phù hợp hơn
Thay vì chạy theo mục tiêu công bố bài báo khoa học – vốn đầy áp lực, rủi ro và không mấy khả thi về mặt thời gian – học sinh THPT có thể chọn hướng đi linh hoạt và phù hợp hơn: tham gia nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo viên hoặc giảng viên đại học, và hoàn thành một bài viết dạng tiểu luận, tổng quan tài liệu (khoảng 3.000-5.000 chữ), tham khảo từ các công bố mới nhất về chủ đề học sinh quan tâm và được trích dẫn đúng theo chuẩn mực học thuật. Những bài viết này tuy chưa được công bố chính thức trên tạp chí khoa học, nhưng có thể đăng tải trên các nền tảng học thuật uy tín.
Ví dụ, việc xuất hiện một bài viết có chỉ mục trên Google Scholar (một trang web dùng để tra cứu, tìm kiếm tài liệu, văn bản học thuật) – dù chưa qua phản biện chính thức – vẫn là một minh chứng cho thấy học sinh đã bắt đầu tiếp cận với môi trường học thuật chuyên nghiệp, có định hướng học thuật rõ ràng nhưng lại vừa sức, không phô trương. Đây là một điểm cộng trong mắt hội đồng tuyển sinh, vì nó thể hiện sự bài bản về học thuật chứ không bị nghi chiêu trò "đánh bóng" lý lịch.
Trong những năm qua, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã hướng dẫn một số học sinh theo cách tiếp cận này, và luôn bắt đầu bằng việc giải thích cho học sinh và phụ huynh về việc không cần thiết phải cố gắng công bố bài báo (nếu ai không thống nhất thì tôi từ chối hướng dẫn). Với mục tiêu có bài viết được Google Scholar chỉ mục, thầy và trò chúng tôi dễ dàng hoàn thành mục tiêu trong năm lớp 11, mà học sinh vẫn không bị quá căng thẳng, tốn nhiều thời gian (vốn dành cho các việc khác như học tiếng Anh, ôn thi SAT, học chính khóa trên lớp). Nhiều học sinh đã áp dụng cách làm này và thành công xin học bổng từ các trường đại học hàng đầu ở Mỹ, Australia, Anh.
Thực tế, tôi không phản đối gì một học sinh THPT có bài công bố khoa học, nếu học sinh đó thực làm và xứng đáng làm tác giả, đồng tác giả bài báo. Trên thế giới vẫn có một số trường hợp học sinh THPT có bài báo công bố, nhưng đó đều là các trường hợp đặc biệt và trong số đó, nhiều khi là học sinh đó làm nghiên cứu khi học lớp 11,12 và khi vào đại học thì bài báo mới được đăng.
Tuy vậy, qua bài viết này, tôi muốn nhấn mạnh việc công bố bài báo khoa học không phải là điều kiện tiên quyết để xin được học bổng. Điều cần thiết hơn cả là các bạn nên có trải nghiệm nghiên cứu thực chất – dù rất nhỏ – để rèn luyện tư duy học thuật, kỹ năng nghiên cứu, và hiểu rõ quy trình làm việc khoa học. Thay vì chạy theo mục tiêu có bài báo công bố, học sinh nên tập trung vào việc học cách làm nghiên cứu. Khi bạn thực sự có một quá trình nghiên cứu khoa học, dù nhỏ nhưng nghiêm túc, bạn vẫn có sự tự tin vào bản thân. Sự tự tin đó lại sẽ được thể hiện trong các hoạt động khác như viết luận hay phỏng vấn sâu. Thành quả của sự trung thực và nỗ lực thực chất sẽ luôn bền vững hơn bất kỳ danh hiệu hay chỉ số nào.
Tác giả: TS Phạm Hiệp là nhà nghiên cứu giáo dục đại học và chính sách khoa học. Năm 2022, ông nhận giải thưởng thường niên dành cho nhà khoa học xuất sắc của Hiệp hội Giáo dục so sánh và quốc tế - Mạng lưới Du học và Sinh viên Quốc tế (Comparative and International Education Society - The Study Abroad and International Student).
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!