(Dân trí) - Từ những bản làng từng quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, nơi cái nghèo đeo bám qua nhiều thế hệ, du lịch cộng đồng đang dần trở thành “chìa khóa” mở ra sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Hát then của người Tày.

Thực tiễn tại nhiều địa phương cho thấy, khi chính sách giảm nghèo được triển khai gắn với lợi thế văn hóa, du lịch, người dân không chỉ có thêm thu nhập mà còn trở thành chủ thể của quá trình phát triển. Du lịch cộng đồng vì thế không chỉ mang du khách đến với vùng cao, mà còn mang đến cơ hội đổi đời cho nhiều gia đình, để bản làng không còn bị níu chân bởi đói nghèo như trước.
Xã Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) từng là địa bàn thuần nông, nơi sinh kế của người dân chủ yếu dựa vào trồng lúa và chăn nuôi nhỏ lẻ. Cuộc sống bấp bênh, thu nhập thấp khiến nhiều hộ gia đình khó thoát khỏi vòng luẩn quẩn nghèo đói. Năm 2010, khi khái niệm “du lịch cộng đồng” còn xa lạ với bà con vùng cao, ông Dương Công Trích ở làng Quỳnh Sơn đã mạnh dạn vay vốn, tiên phong chuyển đổi sinh kế từ chăn nuôi sang làm homestay.
“Lúc mới bắt tay vào làm, nhiều người trong bản lo lắng lắm. Không ai dám chắc có khách đến hay không. Nhưng nếu cứ bám ruộng thì mãi nghèo”, ông Trích nhớ lại.

Gia đình ông Trích đã cải tạo lại ngôi nhà sàn truyền thống, giữ nguyên kiến trúc, nếp sinh hoạt, biến những bữa cơm thường ngày, những câu chuyện bản làng thành “sản phẩm du lịch”. Chính sự mộc mạc, chân thật ấy lại trở thành sức hút đặc biệt với du khách.
Nhờ du lịch, gia đình ông có điều kiện sửa sang nhà cửa, đầu tư cho con cái học hành, cuộc sống dần ổn định. Quan trọng hơn, mô hình của ông Trích đã trở thành “cú hích” để nhiều hộ khác mạnh dạn làm theo.
Theo ông Trịnh Minh Tuấn, Chủ tịch UBND xã Bắc Sơn, du lịch cộng đồng đang trở thành giải pháp giảm nghèo hiệu quả tại địa phương. “Du lịch cộng đồng giúp người dân có việc làm tại chỗ, tăng thu nhập thông qua lưu trú, ẩm thực, dịch vụ trải nghiệm. Quan trọng hơn, người dân chủ động tham gia và hưởng lợi trực tiếp từ du lịch”, ông Tuấn khẳng định.
Hiện làng Quỳnh Sơn có 9 homestay phục vụ du khách với nhiều hoạt động trải nghiệm đặc sắc như đốt lửa trại, làm bánh truyền thống, thưởng thức ẩm thực địa phương, giao lưu văn nghệ với các làn điệu hát Then, hát Ví, múa Tán Đàn… Du khách không chỉ tham quan, nghỉ dưỡng mà còn được hòa mình vào nhịp sống thường ngày của người dân.

Hiệu quả từ phát triển du lịch cộng đồng được thể hiện rõ qua những con số. Năm 2024, xã Bắc Sơn đón gần 80.600 lượt khách, tăng 79,6% so với năm 2021; doanh thu du lịch ước đạt 32,22 tỷ đồng. Chỉ trong 11 tháng đầu năm 2025, làng Quỳnh Sơn đã đón gần 16.000 lượt khách, trong đó có gần 1.000 lượt khách lưu trú. Nhiều hộ dân từ diện khó khăn đã vươn lên ổn định cuộc sống, từng bước thoát nghèo nhờ làm du lịch.
Đặc biệt, năm 2025, Làng du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn vinh dự được Tổ chức Du lịch Thế giới (UN Tourism) bình chọn là “Làng du lịch tốt nhất”. Danh hiệu này không chỉ khẳng định hướng đi đúng đắn trong bảo tồn văn hóa gắn với phát triển kinh tế bền vững, mà còn mở ra cơ hội để du lịch địa phương vươn tầm quốc tế, tạo động lực thoát nghèo lâu dài cho người dân.
Cách Quỳnh Sơn hàng trăm cây số, bản Lô Lô Chải (xã Lũng Cú, Tuyên Quang) cũng là một minh chứng sinh động cho sức sống của du lịch cộng đồng. Hơn chục năm trước, đây là một trong những bản nghèo nhất vùng Cao nguyên đá Đồng Văn. Người dân sống dựa vào nương rẫy, chăn nuôi nhỏ lẻ, cuộc sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên khắc nghiệt.
Từ năm 2016, các dự án hỗ trợ du lịch cộng đồng được triển khai, người dân được tập huấn kỹ năng đón khách, làm homestay, bảo tồn trang phục và nghi lễ dân tộc Lô Lô. Đến nay, thôn có khoảng 30 hộ làm dịch vụ lưu trú; các hộ khác tham gia cung ứng thực phẩm, nông sản. Nhà cửa trong bản được tu sửa theo lối kiến trúc truyền thống, tạo cảnh quan đồng bộ.

Hiện bản Lô Lô Chải có 114 hộ dân, trong đó đồng bào Lô Lô chiếm 80%. Hơn 1/3 số hộ đã chuyển sang làm du lịch, đón hàng nghìn lượt khách mỗi năm. Du khách đến đây không chỉ nghỉ ngơi mà còn được trải nghiệm lễ mừng năm mới của người Lô Lô, thưởng thức thắng cố, rượu ngô men lá, xem biểu diễn trống đồng, nhảy múa quanh lửa trại.
Từ một vùng đất heo hút nơi địa đầu Tổ quốc, Lô Lô Chải đã trở thành điểm sáng trong phát triển du lịch cộng đồng, mang lại nguồn thu bền vững và thắp sáng khát vọng đổi đời cho đồng bào dân tộc Lô Lô.

Tại Lào Cai, Sa Pa là ví dụ điển hình cho việc nhân rộng mô hình du lịch cộng đồng. Từ những điểm thí điểm như Cát Cát, Sín Chải, Bản Dền, loại hình này đã lan tỏa ra nhiều xã như Tả Van, Tả Phìn, Nậm Cang, Mù Cang Chải… Nhiều hộ dân tham gia làm du lịch, với doanh thu từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Tỷ lệ hộ nghèo ở các điểm du lịch giảm nhanh gấp 2-3 lần so với những khu vực khác.
Ở Mù Cang Chải, giữa những tầng ruộng bậc thang nổi tiếng thế giới, du lịch cộng đồng đang giúp địa phương chuyển mình từ một xã nghèo thuần nông sang phát triển kinh tế dịch vụ. Ông Giàng A Tàng, Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết, du lịch được triển khai bài bản, lấy người dân làm chủ thể, khai thác bản sắc văn hóa như một tài nguyên đặc thù, qua đó tạo sinh kế ổn định và bền vững.
Hiện xã có 103 cơ sở homestay đủ điều kiện phục vụ hơn 1.000 khách/ngày đêm. Dự kiến đến hết năm 2025, Mù Cang Chải đón trên 80.000 lượt khách, doanh thu từ du lịch đạt khoảng 120 tỷ đồng.
Câu chuyện của chị Sùng Thị Chinh, chủ homestay ở thôn Dào Sa, là minh chứng rõ nét. “Trước đây gia đình tôi chỉ trông vào nương lúa, quanh năm thiếu trước hụt sau. Từ khi làm homestay, mỗi tuần đón vài chục khách, thu nhập ổn định hơn, có tích lũy để trả lãi ngân hàng”, chị chia sẻ.

Tương tự xã Bản Liền (Lào Cai) cũng đang nổi lên như một điểm đến giàu tiềm năng. Bản Liền Forest Homestay của chị Vàng Thị Cân là một câu chuyện thành công tiêu biểu. Từ năm 2019-2020, chị mạnh dạn vay vốn cải tạo ngôi nhà gỗ truyền thống thành homestay, kết hợp không gian xanh và trải nghiệm văn hóa bản địa. Du khách đến đây được hái chè Shan tuyết, làm vườn, học hát Then, múa kiếm, khám phá rừng nguyên sinh.
Nhờ giữ được kiến trúc và bản sắc văn hóa, homestay nhanh chóng thu hút du khách trong và ngoài nước, tạo việc làm cho 6-8 lao động địa phương. Mô hình này đã lan tỏa, góp phần thúc đẩy phong trào du lịch cộng đồng ở Bản Liền.
Theo ông Trịnh Quang Hưng, Phó Chủ tịch UBND xã Bản Liền, trong định hướng phát triển thời gian tới, địa phương xác định du lịch cộng đồng là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy giảm nghèo bền vững, đồng thời góp phần hoàn thiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới nâng cao.
Bản Liền đã từng bước hình thành vùng chè hữu cơ với diện tích 1.171ha, đồng thời quy hoạch phát triển vùng quế hữu cơ hơn 1.000ha, gắn với chăn nuôi lợn đen bản địa, gà thả vườn và xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng dựa trên trải nghiệm văn hóa bản địa.
Cùng với lợi thế khí hậu trong lành, cảnh quan hùng vĩ, nguyên sơ và bản sắc văn hóa đặc trưng, Bản Liền ngày càng thu hút du khách trong nước và quốc tế đến tham quan, trải nghiệm và lưu trú, với bình quân khoảng 450 lượt khách mỗi năm, doanh thu đạt khoảng 165 triệu đồng/năm. Các điểm đến tiêu biểu gồm thác nước Pắc Kẹ, rừng già thôn Đội 4, suối Bản Liền, đồi chè thôn Đội 3 và các tuyến tham quan ruộng bậc thang mùa lúa chín, mùa nước đổ.

Giai đoạn 2025-2030, xã Bản Liền đặt mục tiêu thu hút từ 25.000 lượt khách trở lên, tổng doanh thu du lịch đạt trên 17,5 tỷ đồng. Điều này đồng nghĩa với việc địa phương phấn đấu bình quân mỗi năm đón khoảng 5.000 lượt khách, cao gấp gần 10 lần so với giai đoạn 2020-2025, với doanh thu bình quân khoảng 3,5 tỷ đồng/năm.
Thực tế cho thấy, du lịch cộng đồng không chỉ tạo việc làm, nâng cao thu nhập mà còn thúc đẩy người dân chỉnh trang nhà ở, cải thiện vệ sinh môi trường, nâng cấp hạ tầng, đồng thời gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa. Khi người dân trở thành chủ thể, khi văn hóa bản địa được trân trọng và khai thác đúng cách, du lịch cộng đồng đã và đang chứng minh sức mạnh của mình trong công cuộc giảm nghèo bền vững.
Video: Khắc Học
Ảnh: Nguyễn Síu - UBND
xã Bắc Sơn - UBND xã Lũng Cú

























