DNews

Nhà khoa học thành người hùng vì cứu đất nước khỏi đại dịch do virus Nipah

T.Thủy

(Dân trí) - Một nhà khoa học người Malaysia đã trở thành “người hùng” vì giúp đất nước của mình tránh khỏi đại dịch do virus Nipah nguy hiểm chết người bùng phát.

Nhà khoa học thành người hùng vì cứu đất nước khỏi đại dịch do virus Nipah

Nhà khoa học và nỗ lực tìm ra loại virus gây “bệnh lạ”

Vào một buổi tối chủ nhật đầu năm 1999, Kaw Bing Chua (46 tuổi vào thời điểm đó) đang trong phòng thí nghiệm và cả ngày vẫn chưa ăn uống gì. Ông không có thời gian để ăn vì mải mê truy đuổi “một kẻ giết người”.

Kaw Bing Chua đẩy lam kính vào dưới kính hiển vi và bắt đầu quan sát.

“Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng tôi”, Kaw Bing Chua nhớ lại khoảnh khắc ông nhìn thấy hình ảnh dưới kính hiển vi. Ngay tại đây, trong tay Chua là một loại virus mới mà thế giới chưa từng được biết đến, nhưng lại là một loại virus nguy hiểm chết người.

Loại virus mới, sau đó được đặt tên là Nipah, nằm trong danh sách những virus có khả năng gây đại dịch trên toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Nhà khoa học thành người hùng vì cứu đất nước khỏi đại dịch do virus Nipah - 1

Tiến sĩ Kaw Bing Chua, người đã phát hiện ra virus Nipah khi ông đang là nghiên cứu sinh tại Đại học Malaya ở Kuala Lumpur (Ảnh: Sanjit Das).

Vào năm 1999, virus Nipah đã lan rộng tại 3 bang của Malaysia. Kaw Bing Chua chính là người đầu tiên phát hiện ra loại virus này. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Chua vẫn là nghiên cứu sinh tiến sĩ về chuyên ngành virus tại Đại học Malaya (nằm tại thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia), chưa có uy tín hay tạo được sự tin tưởng nên không ai tin vào phát hiện của ông.

“Tôi đã gọi điện cho trưởng khoa và đề nghị ông ấy đến phòng thí nghiệm để xem phát hiện của mình”, Chua kể lại. Tuy nhiên, vị trưởng khoa đã khuyên Chua nên vứt bỏ nghiên cứu của mình vì đây là một việc làm vô ích.

Dù vậy, Chua đã không từ bỏ nghiên cứu của mình mà đóng gói và mang mẫu vật này đến Mỹ.

“Cơn ác mộng” bùng phát tại Malaysia vào năm 1999

Cách phòng thí nghiệm của Chua khoảng một giờ lái xe về phía nam, một căn bệnh bí ẩn đang tàn phá thị trấn nông nghiệp mang tên Nipah. Những người mắc bệnh chủ yếu làm nghề chăn nuôi hoặc giết mổ heo.

“Cảm giác như đang sống trong cơn ác mộng”, Thomas Wong, một người chăn nuôi heo tại thị trấn Nipah vào thời điểm đó, chia sẻ. “Mỗi ngày chúng tôi đều thấy thông báo có người đã chết. Tôi đã mất rất nhiều người bạn”.

Nhà khoa học thành người hùng vì cứu đất nước khỏi đại dịch do virus Nipah - 2

Thomas Wong đã mất cả trang trại nuôi heo của mình khi dịch bệnh bùng phát tại Malaysia vào năm 1999 (Ảnh: Sanjit Das).

Căn bệnh diễn biến rất nhanh. Những người đàn ông khỏe mạnh hôm trước, nhưng hôm sau đã hôn mê và qua đời vì viêm não. Một số người tỉnh táo, nhận thức được nhưng lại không thể nói hay cử động.

“Họ rơi vào hôn mê, một số bị liệt, một số qua đời nhanh chóng”, bác sĩ C.T. Tan, làm việc tại bệnh viện của trường Đại học Malaya, chia sẻ.

Tan cho biết ông không thể làm gì để cứu chữa các bệnh nhân vì không có thuốc chữa, không có phác đồ điều trị. Khoảng một nửa bệnh nhân mắc căn bệnh lạ đã tử vong sau khi nhập viện.

“Chúng tôi không biết nó là gì. Thật kinh hoàng”, bác sĩ Tan nhớ lại.

Gần 1/3 gia đình tại làng Nipah đã bị mất người thân. Bệnh lạ này tiếp tục lan sang một số bang khác tại Malaysia trước khi xuất hiện ở Singapore.

Ban đầu, chính phủ Malaysia tin rằng căn bệnh bắt nguồn từ muỗi và tiến hành phun thuốc diệt muỗi để dập dịch.

Tuy nhiên, cả C.T. Tan lẫn Kaw Bing Chua đều nhận định rằng chính phủ đã phán đoán sai, khi họ nhận ra một chi tiết: Không có người Hồi giáo nào bị mắc bệnh.

“Muỗi không quan tâm bạn theo tôn giáo nào. Nếu bệnh đến từ muỗi, bạn sẽ thấy người Hồi giáo, Ấn Độ giáo hay Thiên Chúa giáo đều mắc bệnh”, bác sĩ Tan cho biết. “Nhưng chỉ có những người nông dân nuôi heo mới mắc bệnh. Bạn biết đấy, người Hồi giáo không bao giờ chạm vào thịt heo”.

Nhà khoa học thành người hùng vì cứu đất nước khỏi đại dịch do virus Nipah - 3

Giết mổ heo không sử dụng biện pháp bảo hộ là nguyên nhân chính khiến virus lây lan nhanh chóng tại Malaysia vào năm 1999 (Ảnh: Sanjit Das).

Kaw Bing Chua cũng đồng tình với nhận định của C.T. Tan, không tin rằng căn bệnh đang lây lan tại Nipah do muỗi gây ra, do vậy ông đã quyết tâm tìm hiểu nguồn gốc gây bệnh.

Chua đã đóng gói mẫu virus mình phát hiện được trong phòng thí nghiệm một cách kỹ càng, bỏ vào hành lý xách tay, tự mình mang đến Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) ở bang Colorado (Mỹ), nơi được trang bị hệ thống kính hiển vi hiện đại, giúp các nhà khoa học có thể nhìn thấy chính xác loại virus nào đang gây ra bệnh.

Khi một nhà khoa học tại CDC đưa mẫu virus của Chua vào kính hiển vi điện tử, ông đã giật mình khi nhận ra đây là một loại virus thuộc họ “paramyxovirus” nhờ vào những dấu hiệu đặc trưng trên hình ảnh.

“Paramyxoviridae” là họ virus gây ra nhiều bệnh nguy hiểm như sởi, quai bị, cúm, RSV… Đây là các loại virus lây truyền từ động vật có vú sang người, không phải từ muỗi, và chúng thường tấn công vào phổi gây ra nguy cơ lây lan trong không khí.

Kaw Bing Chua nhanh chóng nhận ra loại virus này nguy hiểm đến mức nào. Ông lập tức gọi điện cho các quan chức tại Malaysia để thông báo về phát hiện của mình.

“Dừng việc diệt muỗi lại. Nó đến từ heo”, Chua hét lớn qua điện thoại.

Nhà khoa học thành người hùng vì cứu đất nước khỏi đại dịch do virus Nipah - 4

Gần một triệu con heo bị tiêu hủy tại Malaysia vào năm 1999. Hành động này đã giúp dập tắt dịch bệnh, nhưng suýt khiến cho ngành chăn nuôi của quốc gia này sụp đổ (Ảnh: Andy Wong).

May mắn, chính phủ Malaysia đã lắng nghe Chua và hành động rất quyết liệt. Quân đội Malaysia đã được huy động để thực hiện một đợt tiêu hủy động vật lớn nhất trong lịch sử quốc gia này, khi gần một triệu con heo đã bị tiêu hủy và chôn lấp.

Hành động quyết liệt này đã phát huy tác dụng. Dịch bệnh dừng lại hoàn toàn. Loại virus mới được phát hiện đã biến mất.

Dù vậy, vẫn còn một thắc mắc mà các nhà khoa học chưa có lời giải đáp: Heo nhiễm loại virus này từ đâu?

Nguồn gốc thực sự của loại virus chết người

Sau phát hiện của Kaw Bing Chua, các nhà khoa học đã phải mất khá lâu để nhận ra rằng heo đã từng nhiễm loại virus này từ nhiều năm trước, nhưng những đợt bùng phát trước đây chỉ ở phạm vi nhỏ, nguyên do vì quy mô chăn nuôi heo vào những năm trước đó chỉ ở mức khiêm tốn.

“Trước đây, heo thường chạy nhảy tự do và gia đình chỉ chăm vài con”, bác sĩ C.T. Tan giải thích về lý do không bùng phát dịch bệnh dù heo đã bị nhiễm virus Nipah từ lâu.

Chỉ đến những năm 80 và 90 của thế kỷ trước, Malaysia trải qua thời kỳ bùng nổ kinh tế mạnh mẽ. Các trang trại nuôi heo quy mô lớn được thành lập để đáp ứng nhu cầu ăn uống của người dân.

Nhà khoa học thành người hùng vì cứu đất nước khỏi đại dịch do virus Nipah - 5

Một trang trại heo bỏ hoang tại Malaysia sau khi dịch bệnh bùng phát vào năm 1999 (Ảnh: Sanjit Das).

Heo được nuôi trong những không gian chật hẹp và quá trình nuôi được công nghiệp hóa. Điều này sẽ giúp tăng năng suất chăn nuôi heo, nhưng cũng kèm theo một cái giá, khi virus xâm nhập vào đàn heo, quá trình lây lan sẽ diễn ra rất nhanh chóng.

Khi hàng trăm, hàng ngàn con heo bị lây nhiễm virus, chúng sẽ trở thành nguồn lây lan sang con người. Những trang trại chăn nuôi heo trở thành “nhà máy sản xuất virus”.

Hiện tại, các trang trại nuôi heo tại Malaysia đã trở nên sạch và thông thoáng hơn. Nông dân chia các trang trại lớn thành từng khu nhỏ và cách ly heo khỏi các loài động vật khác. Kết quả, kể từ đợt bùng phát dịch bệnh vào năm 1999, Malaysia không ghi nhận thêm trường hợp người mắc virus Nipah nào.

Tuy nhiên, tại châu Á đã có hàng chục đợt bùng phát dịch kể từ năm 1999 đến nay, trong đó chủ yếu xảy ra tại Ấn Độ và Bangladesh. Dù vậy, người Ấn Độ và Bangladesh đều rất ít ăn thịt heo vì các lý do tôn giáo, nghĩa là heo không phải vật chủ chứa virus Nipah.

Phải đến năm 2002, các nhà khoa học mới tìm ra bằng chứng xác thực các loài dơi ăn quả thuộc chi dơi quạ (tên khoa học Pteropus) mới thực sự là vật chủ mang virus Nipah để lây nhiễm qua các loài động vật khác và con người.

Kaw Bing Chua, sinh năm 1953, là một nhà virus học, chuyên nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là các bệnh do virus và các loại virus mới xuất hiện.

Ông tốt nghiệp cử nhân Y khoa tại Đại học Malaya vào năm 1979, sau đó tiếp tục tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành nhi khoa tại Đại học Quốc gia Singapore (năm 1984), trước khi hoàn thành tiến sĩ về virus học tại Đại học Malaya (năm 2002).

Ông đã nhận được nhiều giải thưởng về những nghiên cứu và phát hiện các loại virus mới, bao gồm virus Nipah.

Dòng sự kiện: Cảnh báo virus Nipah