Tâm điểm

Ai trả tiền cho "chuẩn" tiến sĩ của chương trình đại học?

Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất mỗi chương trình đào tạo trình độ đại học phải có tối thiểu 7 giảng viên là tiến sĩ tham gia chủ trì, trong đó 2 giảng viên chịu trách nhiệm chính về xây dựng và tổ chức thực hiện. Đây là một bước siết chuẩn đáng ủng hộ.

Cùng với đó, dự thảo Thông tư quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học cho thấy nhà quản lý đang chuyển từ cách kiểm soát thủ tục mở ngành sang quản lý chương trình theo chuẩn đầu ra, điều kiện bảo đảm chất lượng, hậu kiểm và trách nhiệm giải trình. Một chương trình khó có thể tốt nếu đội ngũ học thuật quá mỏng, học liệu thiếu, hạ tầng yếu và việc bảo đảm chất lượng chỉ nằm trên hồ sơ. Hướng đi ấy đúng. Nhưng muốn nó thành thực tế, thiết nghĩ ngành Giáo dục phải trả lời trước một câu hỏi rất đời thường: Ai sẽ trả tiền cho chuẩn mới?

Yêu cầu về tiến sĩ không phải chuyện thêm vài cái tên vào danh sách. Muốn có một đội ngũ đủ sức gánh chương trình, trường phải tuyển người, giữ người, dành thời gian cho nghiên cứu, mua quyền truy cập cơ sở dữ liệu, đầu tư phòng thí nghiệm, học liệu, hạ tầng số và bộ máy bảo đảm chất lượng nội bộ. Dự thảo còn đòi hỏi các điều kiện ấy phải được duy trì trong suốt vòng đời của chương trình, chứ không dừng ở thời điểm xin mở mới chương trình (ngành đào tạo).

Ai trả tiền cho chuẩn tiến sĩ của chương trình đại học? - 1

Chi phí cho một sinh viên hiện vào khoảng 100 triệu đồng mỗi năm, gồm học phí và các khoản khác (Ảnh minh họa: CV)

Với những yêu cầu như vậy, chuẩn mới đương nhiên làm tăng chi phí cố định của hoạt động đào tạo. Ở những trường nền tảng học thuật còn mỏng, áp lực đó sẽ lớn hơn.

Áp lực ấy rốt cuộc rồi sẽ quay về người học. Tại hội nghị tuyển sinh năm nay, đại diện lãnh đạo ngành Giáo dục cho biết chi phí cho một sinh viên hiện vào khoảng 100 triệu đồng mỗi năm, gồm học phí và các khoản khác, xấp xỉ thu nhập bình quân một năm của người lao động. Nghĩa là với nhiều gia đình làm công ăn lương, việc nuôi con học đại học đã là một quyết định tài chính nặng tay ngay cả trước khi chuẩn mới được áp dụng rộng hơn.

Điểm then chốt nằm ở cấu trúc tài chính của đại học. Theo ghi nhận của Ngân hàng Thế giới, ở nhóm đại học công lập được khảo sát, đóng góp từ học phí đã tăng từ 57% tổng thu năm 2017 lên 77% vào năm 2021, điều này nghĩa là phần từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác giảm. Cũng vì vậy, tổ chức này khuyến nghị Việt Nam không nên hiểu tự chủ đại học thành tự lo tài chính, tức rút dần ngân sách rồi để trường bù phần thiếu bằng học phí. Nói gọn hơn, nếu vẫn giữ cách hiểu đó thì chi phí tăng thêm do chuẩn mới tạo ra nhiều khả năng sẽ tiếp tục dồn về phía người học.

Có thể nói đã có các lớp "đệm" chính sách hỗ trợ cho người học, nhưng chúng còn mỏng. Chương trình tín dụng ưu đãi hiện hành của Ngân hàng Chính sách xã hội cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay tối đa 4 triệu đồng một tháng. Chính sách miễn, giảm học phí theo quy định hiện hành vẫn rất cần thiết, song chủ yếu hướng đến các nhóm chính sách hoặc hoàn cảnh được xác định rõ. Phần đông các gia đình thu nhập trung bình thấp, tức những người không nghèo theo chuẩn nhưng cũng không đủ dư dả, vẫn là nhóm dễ bị tổn thương khi chi phí đại học tăng lên.

Vì vậy, tranh luận đúng lúc này không phải ở chuyện có nâng chuẩn hay không. Câu hỏi đúng là chuẩn mới sẽ được trả bằng nguồn nào và chia như thế nào giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và người học. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu vấn đề từ nhiều năm trước rằng các trường cần có nguồn thu thực chất từ nghiên cứu thay vì dựa chủ yếu vào học phí. Ngân hàng Thế giới cũng đề xuất tăng chi ngân sách cho giáo dục đại học lên ít nhất 0,8% đến 1% GDP vào năm 2030, đồng thời mở rộng hỗ trợ tài chính và tín dụng cho sinh viên. Đó không phải là xin quay lại bao cấp dàn đều. Đó là yêu cầu phải thiết kế lại cách chia hóa đơn cho đúng với lợi ích công mà đại học tạo ra.

Muốn đi tới chuẩn cao một cách bền vững, ngân sách công phải gánh phần mà thị trường không muốn hoặc không thể gánh, nhất là đầu tư đội ngũ, phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu và các ngành nền tảng hay chiến lược.

Cơ chế đặt hàng đào tạo, đặt hàng nghiên cứu và quỹ cạnh tranh phải đủ lớn để trường có nguồn thu học thuật thật, thay vì sống chủ yếu bằng học phí. Hỗ trợ cho người học cũng phải đi từ hình thức sang thực chất, gồm học bổng theo nhu cầu, khoản vay cao hơn, thủ tục gọn hơn và cách trả nợ phù hợp hơn với thu nhập sau tốt nghiệp. Cùng lúc, mỗi chương trình cần công khai chi phí đào tạo và chất lượng đầu ra để xã hội biết mình đang trả tiền cho điều gì.

Nâng chuẩn đào tạo đại học là việc nên làm. Nhưng chất lượng không tự sinh ra từ một dòng quy định mà cần nguồn lực, cần thời gian và cần một cách chia chi phí công bằng. Nếu câu hỏi này không được trả lời minh bạch từ đầu, chúng ta có thể có chuẩn mới trên giấy rất nhanh, còn chuẩn sống được trong thực tế thì chậm hơn nhiều.

Tác giả: Thạc sĩ Nguyễn Thành Hưng tốt nghiệp chuyên ngành Chính sách Công tại Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright; hiện đang làm công tác quản lý và giảng dạy tại Trường Đại học Thái Bình Dương, đồng thời là Nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành Quản lý Công tại Trường Đại học Quốc tế - Đại học Quốc gia TPHCM.

Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!