Vụ đánh bạc tại khách sạn Pullman

Từ vụ đánh bạc ở Pullman: Trường hợp nào bị cáo được hưởng án treo?

Hoàng Diệu

(Dân trí) - Theo luật sư, nếu bị cáo bị tuyên phạt dưới 3 năm tù và đáp ứng các điều kiện về nhân thân thì có thể được xem xét áp dụng án treo.

Dự kiến trong tuần này, HĐXX TAND TP Hà Nội sẽ tuyên án sơ thẩm các bị cáo trong vụ án Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc xảy ra tại Khách sạn Pullman (phường Giảng Võ, thành phố Hà Nội) hồi tháng 6/2024. 

Trước đó, tại phần luận tội, đại diện VKSND TP Hà Nội đã đề nghị HĐXX tuyên phạt 11 bị cáo án tù giam, 55 án phạt tiền và đặc biệt là 55 án tù treo, con số hiếm thấy tại các vụ án.

Nhiều độc giả thắc mắc, theo quy định của pháp luật, bị cáo trong trường hợp nào có thể được xem xét án tù treo? 

Từ vụ đánh bạc ở Pullman: Trường hợp nào bị cáo được hưởng án treo? - 1

Các bị cáo tại phiên tòa (Ảnh: Nam Anh).

Giải đáp băn khoăn của độc giả, luật sư Hoàng Trọng Giáp (Giám đốc Công ty Luật Hoàng Sa, Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết theo Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về án treo, căn cứ nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần bắt chấp hành hình phạt tù và người phạm tội bị xử phạt tù không quá 3 năm. Tòa án có thể xem xét cho hưởng án treo và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách từ 2 lần trở lên, Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

Hướng dẫn cụ thể quy định nêu trên, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018. Trong đó, căn cứ Điều 2 Nghị quyết 02, điều kiện cụ thể để người phạm tội được hưởng án treo như sau: 

(i) Bị xử phạt tù không quá 3 năm;

(ii) Có nhân thân tốt, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc (trừ lần phạm tội này). Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích hoặc đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 6 tháng, tùy thuộc tính chất, mức độ của tội phạm mới nếu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo; 

(iii) Có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 1 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng. Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm thì số tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng từ 2 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 1 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; 

(iv) Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

(v) Xét thấy không cần bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Ngoài ra, Tòa án phải xem xét thận trọng, chặt chẽ các điều kiện để bảo đảm việc cho hưởng án treo đúng quy định của pháp luật, đặc biệt đối với các trường hợp hướng dẫn tại khoản 2, 4 và 5 Điều 3 Nghị quyết này. 

Như vậy, về cơ bản, bị cáo muốn được hưởng án treo trước hết phải có mức án bị xử phạt từ 3 năm tù trở xuống. Về nhân thân, họ phải đáp ứng các yếu tố như có nhân thân tốt, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách pháp luật tại địa phương; có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, số tình tiết giảm nhẹ phải lớn hơn số tình tiết tăng nặng ít nhất 2 tình tiết; có nơi cư trú hoặc làm việc rõ ràng và có khả năng tự cải tạo, không gây ảnh hưởng, nguy hiểm cho xã hội. 

Ngoài ra, khi xem xét tuyên án, Tòa án cũng sẽ đánh giá nhiều yếu tố khác như vấn đề sức khỏe của bị cáo (có bị bệnh mãn tính, bệnh hiểm nghèo, phải điều trị thường xuyên không), hoàn cảnh gia đình (có cha mẹ già, con nhỏ, có phải lao động chính không) hay yếu tố thân nhân (con, cháu của người có công với cách mạng hay không)... để đưa ra mức phạt phù hợp.