Hai triệu doanh nghiệp và tăng trưởng hai con số
Mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, đạt 20 doanh nghiệp hoạt động trên 1.000 dân, là một mục tiêu lớn. Nhưng con số này chỉ thực sự có ý nghĩa khi phía sau nó là những doanh nghiệp có khả năng tồn tại, lớn lên, đổi mới và cạnh tranh. Một nền kinh tế mạnh không chỉ được đo bằng số doanh nghiệp đăng ký, mà bằng năng lực của doanh nghiệp trong việc vượt qua biến động, tạo giá trị gia tăng và vươn ra thị trường khu vực, toàn cầu.
Nhìn vào thống kê gần đây có thể thấy rõ thách thức này. Năm 2025, cả nước có hơn 297.400 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Tuy nhiên, cùng năm đó có 227.200 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Điều này cho thấy dòng doanh nghiệp gia nhập thị trường vẫn tích cực, nhưng sức bền của khu vực doanh nghiệp còn là vấn đề lớn.

Một góc đô thị TPHCM năng động, hiện đại (Ảnh: Hoàng Giám).
Vì vậy, nếu chỉ tập trung vào số doanh nghiệp thành lập mới, chúng ta mới nhìn thấy một nửa bức tranh. Doanh nghiệp thành lập mới phản ánh kỳ vọng; doanh nghiệp trụ lại phản ánh sức khỏe thật của doanh nghiệp, sự sôi động của thị trường. Một doanh nghiệp tồn tại được qua thời gian chứng minh rằng họ có khách hàng, có năng lực quản trị, có khả năng thích nghi với chi phí, cạnh tranh và biến động chính sách. Ngược lại, khi số doanh nghiệp rút lui lớn, đó không chỉ là câu chuyện riêng của từng chủ doanh nghiệp, mà còn là tín hiệu về sức chịu đựng của doanh nghiệp đối với môi trường kinh doanh.
Một hướng đi thường được nhắc đến là thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh sang doanh nghiệp. Đây là hướng đúng, bởi Việt Nam có một khu vực hộ kinh doanh rất lớn. Theo Tổng cục Thống kê, tại thời điểm năm 2020, cả nước có gần 5,2 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, sử dụng khoảng 8,5 triệu lao động. Đây là nguồn lực quan trọng nếu được hỗ trợ đúng cách.
Tuy nhiên, chuyển đổi hộ kinh doanh không nên được hiểu như một phép cộng cơ học để làm đẹp số lượng doanh nghiệp. Nhiều hộ kinh doanh là mô hình sinh kế gia đình, quy mô nhỏ, không có nhu cầu hoặc chưa đủ năng lực vận hành theo cấu trúc doanh nghiệp. Nếu thúc đẩy bằng mệnh lệnh hành chính, kết quả có thể chỉ là những doanh nghiệp trên giấy. Điều cần thiết hơn là tạo ra động lực chuyển đổi tự nhiên: chi phí tuân thủ thấp hơn, thủ tục đơn giản hơn, tiếp cận vốn thuận lợi hơn, quản trị minh bạch hơn và quyền tài sản được bảo vệ tốt hơn.
Nói cách khác, mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp không thể tách khỏi bài toán nuôi dưỡng doanh nghiệp. Trọng tâm chính sách cần chuyển từ “tăng số lượng doanh nghiệp” sang “tăng sức sống của doanh nghiệp”. Điều đó đòi hỏi một hệ sinh thái giúp giảm tỷ lệ rút lui khỏi thị trường, thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ lớn lên thành doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp vừa lớn lên thành doanh nghiệp lớn, và nhiều doanh nghiệp có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước cũng như quốc tế.
Trong nhiều cuộc trao đổi với doanh nghiệp, có thể thấy họ không thiếu ý tưởng và cũng không ngại khó. Điều họ cần nhất là một môi trường chính sách ổn định, có thể dự báo. Ứng phó với biến động thị trường và sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ trước hết phải đến từ năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp: áp dụng công nghệ mới, cải tiến quy trình, nâng cao chất lượng sản phẩm và điều chỉnh mô hình kinh doanh. Điều đó không có nghĩa là chính sách phải thay đổi liên tục để chạy theo từng biến động ngắn hạn.
Ngược lại, chính sách càng cần có tầm nhìn dài hạn và sự ổn định trong một khoảng thời gian nhất định. Kế hoạch đầu tư, sản xuất, nhân sự và phát triển thị trường của doanh nghiệp đều được xây dựng trên cơ sở “neo” theo khung chính sách hiện hành. Nếu chính sách thay đổi khó lường, rủi ro môi trường kinh doanh sẽ trở thành một loại chi phí vô hình. Khi chi phí đó tăng lên, động lực đầu tư giảm xuống; nhiều doanh nghiệp sẽ chọn “ngủ đông” thay vì mở rộng.
Niềm tin đầu tư cũng không chỉ đến từ ưu đãi thuế hay các gói hỗ trợ. Nó đến từ niềm tin rằng tài sản và quyền kinh doanh hợp pháp được bảo vệ chắc chắn theo pháp luật. Vì vậy, cải cách thể chế cần hướng mạnh hơn vào bảo vệ quyền sở hữu tài sản, rút ngắn thời gian và chi phí giải quyết tranh chấp, chuẩn hóa quy trình pháp lý, hạn chế diễn giải tùy tiện và giảm rủi ro pháp lý trong toàn bộ vòng đời doanh nghiệp.
Gần đây, Chính phủ đã phát đi những thông điệp mạnh mẽ về cắt giảm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Đây là những chuyển động rất tích cực. Mục tiêu được đưa ra là cắt giảm ít nhất 30% thời gian giải quyết thủ tục hành chính, 30% chi phí tuân thủ và 30% điều kiện kinh doanh. Mới đây Chính phủ đã ban hành 8 nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, trong đó bãi bỏ 184 thủ tục hành chính và 890 điều kiện kinh doanh.
Tuy nhiên, cải cách môi trường kinh doanh không chỉ nằm ở việc cắt giảm văn bản hay thủ tục. Điều quan trọng hơn là cải cách bộ máy thực thi. Cần đẩy mạnh chuyển đổi số, minh bạch hóa toàn bộ quy trình xử lý thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, công khai thời hạn, trách nhiệm, trạng thái hồ sơ và chi phí tuân thủ. Trách nhiệm cá nhân của cán bộ, công chức phải được gắn với kết quả giải quyết công việc; đồng thời phải có chế tài nghiêm minh đối với hành vi chậm trễ, gây phiền hà hoặc làm sai lệch tinh thần cải cách.
Tất cả những vấn đề trên cuối cùng quy tụ về một điểm căn bản: phải tái định vị vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế. Nhà nước cần tập trung vào xây dựng luật chơi minh bạch, nhất quán; giữ vững ổn định vĩ mô như một cam kết chính sách; bảo đảm cạnh tranh công bằng giữa các khu vực kinh tế; và rút khỏi những can thiệp trực tiếp, không cần thiết vào các quyết định sản xuất, kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp.
Nhà nước kiến tạo không làm thay doanh nghiệp. Nhà nước kiến tạo tạo dựng không gian phát triển, bảo vệ niềm tin thị trường và khơi thông nguồn lực xã hội. Khi Nhà nước can thiệp quá sâu vào các quyết định kinh tế cụ thể, tín hiệu thị trường dễ bị méo mó. Ngược lại, khi Nhà nước làm tốt vai trò kiến tạo, điều tiết bằng luật chơi minh bạch và thực thi nhất quán, doanh nghiệp sẽ có thêm không gian để đầu tư, đổi mới và lớn lên.
Cải cách thể chế vì vậy không chỉ là sửa đổi quy định. Đó là thay đổi tư duy điều hành và cách thức phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế. Mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp và tăng trưởng hai con số là khả thi, nhưng chỉ khi thể chế đi trước một bước để tạo ra niềm tin, giảm rủi ro và mở rộng không gian phát triển cho khu vực doanh nghiệp.
Hai triệu doanh nghiệp chỉ trở thành động lực cho tăng trưởng hai con số khi phía sau con số ấy là một thể chế đủ minh bạch, ổn định và kiến tạo để doanh nghiệp dám đầu tư, dám lớn lên và dám cạnh tranh.
Tác giả: TS. Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê (thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Hiện nay, ông thường xuyên có những ý kiến đóng góp cho công tác điều hành trên góc độ một chuyên gia về lĩnh vực thống kê.
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!









