Cân nhắc "khai thác khoáng sản khi khẩn cấp mà không cần thủ tục cấp phép"
(Dân trí) - Có ĐBQH ủng hộ song cũng có người lo ngại việc cho phép khai thác khoáng sản nhóm III và IV trong tình huống khẩn cấp mà không phải thực hiện thủ tục cấp phép, sau thực trạng lũ lụt, sạt lở vừa qua.
Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Địa chất và khoáng sản trong phiên thảo luận sáng 1/12, đại biểu Nguyễn Tâm Hùng (TPHCM) ủng hộ quy định cho phép khai thác khoáng sản nhóm III và IV trong tình huống khẩn cấp mà không phải thực hiện thủ tục cấp phép, để tạo cơ chế phản ứng nhanh.
Tuy nhiên, để hạn chế nguy cơ lạm dụng cơ chế khẩn cấp trong thực tế, ông Hùng đề nghị cân nhắc làm rõ tiêu chí xác định tình trạng khẩn cấp, kèm theo cơ chế hậu kiểm bắt buộc về sản lượng, thời điểm, khu vực và mục đích khai thác.
Điều này nhằm bảo đảm tài nguyên không bị thất thoát và bảo đảm công khai, minh bạch.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Tâm Hùng (Ảnh: Hồng Phong).
Có quan điểm khác, đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) lại cho rằng đây là điều cần cân nhắc.
“Tất nhiên trong tình trạng khẩn cấp thì phải thực hiện, nhưng với thực tế về sạt lở núi, ngập lụt, ảnh hưởng đến môi trường ở nước ta đang diễn biến rất phức tạp như thời gian qua, nếu cho phép khai thác sai quy hoạch hoặc khai thác vượt mức, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đất đai”, ông Hòa nêu quan điểm.
Theo ông, vật liệu thông thường, vật liệu nhóm III, nhóm IV chủ yếu là phục vụ cho san lấp. Ở miền núi hay đồng bằng, nếu lấy đất, đá để san lấp phục vụ các dự án, cần đánh giá tác động môi trường và đảm bảo an toàn ở khu vực dân cư.
Nhìn nhận diễn biến thiên tai rất nguy hiểm, ông Hòa nhấn mạnh cần phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên giảm thiểu tối đa việc ảnh hưởng đến môi trường, cộng đồng dân cư, nhất là sau khi có bão, lũ.

Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa (Ảnh: Quang Vinh).
Hơn nữa, ông Hòa góp ý cần quy định cụ thể hơn về thẩm quyền ban bố tình trạng khẩn cấp, quy định cơ chế kiểm soát khối lượng, phạm vi khai thác.
Liên quan quy định về thăm dò, khai thác đất hiếm, đại biểu Nguyễn Tâm Hùng nhấn mạnh quản lý đất hiếm là lĩnh vực nhạy cảm, có nguy cơ bị thâu tóm tài nguyên hoặc rò rỉ công nghệ nền.
Vì vậy, ông đề nghị cân nhắc bổ sung quy trình phê duyệt an ninh kinh tế - công nghệ trước khi chuyển giao công nghệ, xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu hoặc liên doanh quốc tế, nhằm bảo đảm chủ quyền tài nguyên - an ninh kinh tế quốc gia - tự chủ công nghiệp đất hiếm.
Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An (Đồng Nai) thì cho rằng với việc Việt Nam nằm trong số các nước có trữ lượng đất hiếm lớn, việc quản lý loại tài nguyên này cũng như làm chủ công nghệ sẽ giúp khẳng định vị thế tự cường của Việt Nam.
Ở góc độ quốc phòng - an ninh, đại biểu An nhấn mạnh đất hiếm là nền tảng, nên công nghệ lõi của rất nhiều vũ khí, đặc biệt với vũ khí chính xác cao.
Dự thảo luật đã quy định về khu vực dự trữ đất hiếm, nhưng đại biểu đề xuất phải có những mỏ đất hiếm hoặc khu dự trữ dành riêng cho mục đích quốc phòng - an ninh.

Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An (Ảnh: Hồng Phong).
Cùng với đó, theo ông An, cần bổ sung những quy định về kiểm soát công nghệ và dữ liệu liên quan đến đất hiếm. “Dữ liệu đất hiếm có thể thuộc diện bí mật Nhà nước”, ông An nói và góp ý nên có 1 điều riêng về đất hiếm liên quan đến quốc phòng - an ninh.
Nêu thực tế có những quốc gia từng phát triển đất hiếm ồ ạt nhưng thiếu kiểm soát đã phải đối mặt với những vùng ô nhiễm phóng xạ tồn lưu, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Lâm Đồng) cho rằng nếu như vậy, chi phí xử lý và phục hồi môi trường lớn gấp nhiều lần giá trị kinh tế thu được. Đây là bài học đắt giá cho Việt Nam, theo lời nữ đại biểu.
Vì thế, đại biểu Tú Anh góp ý "chỉ những doanh nghiệp có năng lực công nghệ, năng lực tài chính và hệ thống quản trị môi trường đạt quốc tế mới được phép tham gia khai thác đất hiếm".





