Tâm điểm

“Đường băng” phát triển mới của TPHCM

Tại cuộc làm việc với Thành ủy TPHCM ngày 27/4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh việc phải có nghị quyết mới, mô hình phát triển mới xứng tầm quy mô của thành phố, đáp ứng kỳ vọng của Trung ương và cả nước.

TPHCM sau sáp nhập mang trong mình vị thế của đô thị đầu tàu kinh tế và trung tâm công nghiệp, kinh tế biển quốc gia - một siêu đô thị đóng góp 14% dân số, 23,6% GDP, 31% ngân sách cả nước và đang bước vào giai đoạn chuyển mình chiến lược để vươn tầm khu vực, thế giới.

Vị thế "đầu tàu" là niềm tự hào, cũng là trách nhiệm đòi hỏi TPHCM tiếp tục tăng tốc mạnh mẽ, tạo đột phá phát triển không chỉ cho thành phố mà ở tầm quốc gia. Tuy nhiên bên cạnh những nền tảng vốn có và các điểm nhấn gần đây - nổi bật là trung tâm tài chính quốc tế, thì vẫn còn đó những thách thức đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ, đó là "50 năm qua, đặc biệt gần 40 năm đổi mới, TPHCM phát triển trên 3 trụ cột là mở cửa, khu vực kinh tế tư nhân năng động và vai trò trung tâm kinh tế - thương mại quốc gia. Tuy nhiên, khi nhìn thẳng vào sự thật, các động lực này đang suy giảm rõ rệt, có nguy cơ tụt hậu".

Có thể nói TPHCM hôm nay đứng trước ngưỡng cửa lịch sử của một mô hình phát triển mới. Khi những động lực từng tạo nên tăng trưởng của thành phố đang vận hành chậm lại, nhiệm vụ chiến lược phía trước của thành phố chắc chắn không phải là "sửa sang", "vá víu" hay tinh chỉnh mô hình cũ. Thành phố cần một mô hình phát triển mới được kiến tạo trên những trụ cột của dòng chảy thời đại: khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế tri thức, kinh tế số...

Nói một cách hình ảnh, mô hình phát triển từng là bệ phóng đưa TPHCM cất cánh đã "chạm trần". Giờ đây công việc của các kiến trúc sư không chỉ là gia cố nền móng, mà là dựng lên một không gian mới – cao hơn, rộng hơn, và quan trọng nhất, được thiết kế để tạo nên những đường băng phát triển mới.

“Đường băng” phát triển mới của TPHCM - 1

Một góc TPHCM (Ảnh: Hoàng Giám).

Nhìn ra thế giới, Thượng Hải (Trung Quốc) đã làm nên kỳ tích Phố Đông không phải nhờ may mắn địa lý hay nguồn vốn dồi dào. Khi Quốc vụ viện Trung Quốc tuyên bố mở cửa Phố Đông năm 1990 và chính thức thiết lập đặc khu kinh tế tại đây năm 1993, đó là một quyết định mang tính kiến tạo thể chế chưa từng có tiền lệ: dựng nên một "đặc khu trong lòng đô thị". Khu Tài chính – Thương mại Lục Gia Chủy được quy hoạch tại mũi phía tây Phố Đông đã trở thành trung tâm tài chính của Trung Quốc hiện đại, với một mô hình quản trị đặc biệt – chính quyền Phố Đông được phân cấp, phân quyền đúng với tầm vóc của một trung tâm tài chính toàn cầu.

Từ một vùng đầm lầy ven sông Hoàng Phố, Phố Đông đã đạt GDP khoảng 1.730 tỷ Nhân dân tệ, tương đương 238 tỷ USD vào năm 2024 – một con số đủ để vượt GDP của nhiều quốc gia tầm trung. Bài học ở đây không phải là "xây nhà cao tầng", mà là dám thiết kế một thể chế khác biệt ngay giữa lòng thành phố lớn nhất Trung Quốc.

Thâm Quyến (Trung Quốc), ở chiều kích khác, đã viết nên câu chuyện riêng của đặc khu này bằng cách đặt trọn niềm tin vào doanh nghiệp tư nhân. Từ thời kỳ ban đầu chủ yếu dựa vào FDI, Thâm Quyến dần được dẫn dắt bởi các doanh nghiệp bản địa đổi mới sáng tạo như BYD, DJI và Tencent. Sự đảo chiều ngoạn mục này được phản ánh rõ trong dữ liệu sở hữu trí tuệ: năm 2005, hai công ty Đài Loan (Trung Quốc) đứng đầu Thâm Quyến về số bằng sáng chế; đến năm 2015, toàn bộ top 10 đều là doanh nghiệp Trung Quốc, dẫn đầu là ZTE và Huawei.

Đáng kinh ngạc hơn, năm 2024, chi tiêu nghiên cứu và phát triển (R&D) của Thâm Quyến đạt 223,66 tỷ Nhân dân tệ (khoảng 31,46 tỷ USD), chiếm 6,46% GDP của thành phố, trong đó doanh nghiệp đóng góp tới 93,3%. Đây không chỉ là một con số ấn tượng, mà là một tuyên ngôn về triết lý phát triển: nhà nước rút lui khỏi vai "người chèo thuyền" để làm "người mở đường", trao lại bánh lái đổi mới sáng tạo cho khu vực tư nhân. Hệ quả là Thâm Quyến hôm nay có hơn 25.000 doanh nghiệp công nghệ cao cấp quốc gia và đứng đầu Trung Quốc về số đơn đăng ký sáng chế PCT (Hiệp ước hợp tác về sáng chế do Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới quản lý) trong 21 năm liên tiếp.

Trong khu vực Đông Nam Á, Singapore mang lại bài học về con đường của quản trị thông minh, minh bạch và niềm tin thể chế. Quản trị nhà nước của Quốc đảo này đã trở thành một dạng "tài sản kinh tế" có thể đo lường: minh bạch tạo ra niềm tin, niềm tin hấp dẫn vốn, vốn nuôi dưỡng tăng trưởng.

Soi kỹ ba mô hình ấy, sẽ thấy điểm chung không chỉ nằm ở quy mô vốn liếng, không chỉ nằm ở vị trí địa lý, càng không chỉ nằm ở chính sách ưu đãi thuế đơn thuần – những thứ mà nhiều thành phố khác cũng có. Điểm chung cốt lõi là đột phá thể chế: dám thiết kế những "luật chơi" khác biệt, dám trao quyền và phân định lại vai trò giữa nhà nước với thị trường, dám xây dựng năng lực quản trị đủ tầm để dẫn dắt và phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả. Đó mới chính là biến số quyết định.

Ngày nay, trong một thế giới mà tốc độ là yếu tố sống còn, mô hình phát triển mới không chấp nhận "độ trễ chính sách", không chấp nhận các quyết sách phải đi qua nhiều tầng nấc phê duyệt. Câu chuyện của TPHCM vì vậy, trước hết là xây dựng được một thể chế kiến tạo tương thích với quy mô kinh tế, quy mô dân số, đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố.

TPHCM sẽ cần thêm nhiều tuyến đường cao tốc, cần thêm nhiều cây cầu, cần thêm nhiều tuyến metro, nhưng chừng đó chưa đủ. Động lực tăng trưởng cốt lõi của thành phố phải chăng là việc chuyển từ cấu trúc đơn trung tâm sang đa cực; từ tăng trưởng theo quy mô sang tăng trưởng theo giá trị; từ quản trị hành chính truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu và phân quyền thực chất; từ tư duy "quản lý doanh nghiệp" sang "đồng hành với doanh nghiệp" với một cơ chế đối thoại thực chất hơn với khu vực tư nhân và giới chuyên gia…

Trụ cột đầu tiên phải là đột phá thể chế. Các khu vực động lực cần được trao quyền như những "vùng thử nghiệm", nơi các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo có thể vận hành trong cơ chế sandbox (khung pháp lý thử nghiệm). Khu vực này sẵn sàng áp dụng các luật chơi quốc tế một cách thực chất, như cách Trung ương và thành phố đã áp dụng cho trung tâm tài chính quốc tế mới hình thành vừa qua.

Tín hiệu đáng mừng là thành phố đang xây dựng Luật đô thị đặc biệt trình các cấp có thẩm quyền xem xét. Xét tổng thể, đạo luật này khi được ban hành chính là một khung thể chế tạo đột phá phát triển cho thành phố. Trong đó, như nhiều chuyên gia đã phân tích, chỉ số năng lực cạnh tranh của thành phố sẽ được cải thiện nhờ môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi hơn. Thời gian quyết định các dự án đầu tư sẽ nhanh hơn, cắt giảm được các thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian. Từ đó sẽ giúp thành phố thu hút được các nhà đầu tư chiến lược, thúc đẩy được các dự án đầu tư về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của thành phố, cũng như các dự án kêu gọi hợp tác công tư.

Tiếp theo, mô hình phát triển mới của TPHCM cần quan tâm đến là các trục logistics (dịch vụ hậu cần) và năng lượng xanh, đặc biệt tại khu vực Cái Mép, cần được tái cấu trúc theo hướng tích hợp; thay vì phát triển nhiều cảng nhỏ manh mún, thành phố cần hình thành những cảng đủ lớn, không chỉ là kết nối hạ tầng, mà là tái tổ chức không gian kinh tế để hình thành một cực tăng trưởng xanh gắn với chuỗi cung ứng toàn cầu, năng lượng sạch và trung tâm dữ liệu đáp ứng chuẩn mực quốc tế.

Song song đó, thành phố cần thúc đẩy mô hình đô thị nén gắn với phát triển định hướng giao thông (TOD). Mỗi nhà ga metro không chỉ là điểm dừng, mà phải trở thành một điểm tích hợp đầy đủ chức năng sống, làm việc và dịch vụ, giúp giảm áp lực giao thông, hạn chế ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng sống.

Trên thực tế, TPHCM chưa bao giờ phát triển một mình. Từ những năm đầu Đổi mới, thành phố đã là hạt nhân của tam giác kinh tế năng động bậc nhất cả nước, rồi mở rộng thành tứ giác phát triển vùng Đông Nam Bộ và hiện nay là "siêu đô thị" gồm các đơn vị TPHCM, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu trước đây, nằm bên cạnh một Đồng Nai vừa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Tứ giác phát triển trước đây nay đã trở thành 2 cực phát triển lớn, mở ra những tiềm lực và cơ hội hoàn toàn mới.

Tất nhiên quy mô tự nó không chuyển thành sức mạnh. Đặt trong mối quan hệ vùng và liên vùng thì các cơ chế liên kết cần được điều phối tốt hơn. Hạ tầng "mềm" với dữ liệu liên thông, quy hoạch không gian thống nhất và một bộ máy điều phối thực quyền…, cũng như hạ tầng "cứng" như Vành đai 3, Vành đai 4, đường sắt đô thị liên vùng, sân bay cảng biển… cần được đẩy mạnh xây dựng trong một tổng thể thống nhất, liên kết chặt chẽ.

Lịch sử cho thấy, mỗi khi dám thay đổi, TPHCM đều đi trước. Kỳ vọng và tin tưởng rằng lần này với "đòn bẩy thể chế" đủ mạnh, cùng nội lực từ hàng triệu người dân và doanh nghiệp, thành phố nhất định trở thành một siêu đô thị tầm cỡ thế giới, là niềm tự hào của Việt Nam.

Tác giả: Ông Vũ Ngọc Bảo từng theo học tại Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright; hiện công tác tại Tổng công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí, thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!