Bảo vệ người dám nghĩ, dám làm và ba tầng trách nhiệm
Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số (Nghị quyết) đặt ra một bài toán khó nhưng không thể né tránh: làm thế nào để người thực sự dám nghĩ, dám làm không bị trói buộc bởi nỗi sợ trách nhiệm, đồng thời không để chính sách đặc thù trở thành công cụ hợp thức hóa những hành vi cố ý vi phạm pháp luật.
Đây không chỉ là câu chuyện của một Nghị quyết thí điểm. Tại phiên họp ngày 17/8, Chính phủ cho biết các chính sách trong dự thảo sẽ tiếp tục được nghiên cứu để đưa vào Bộ luật Hình sự sửa đổi; Bộ luật Tố tụng hình sự cũng được nghiên cứu bổ sung các cơ chế tương ứng về tạm hoãn truy cứu và miễn trách nhiệm hình sự. Những gì Quốc hội quyết định lần này, vì thế, có thể trở thành bước thử nghiệm cho một cách tiếp cận mới của chính sách hình sự trong quản lý kinh tế và đổi mới sáng tạo.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (tác giả) thảo luận tại Quốc hội (Ảnh: media QH)
Theo tôi, toàn bộ vấn đề nằm ở một mệnh đề: bảo vệ người dám đổi mới phải là bảo vệ từ bản chất hành vi. Người hành động ngay tình - nghĩa là người dám nghĩ, dám làm, không vụ lợi, minh bạch và chấp nhận rủi ro trong phạm vi hợp lý thì cần được xác định ngay từ đầu là không phải chịu trách nhiệm hình sự. Còn người đã vi phạm rồi tích cực khắc phục hậu quả thì đó là chính sách khoan hồng. Hai điều này khác nhau về bản chất, không chỉ khác về mức độ.
Thất bại của đổi mới không đồng nghĩa với vi phạm pháp luật
Điểm xuất phát quan trọng nhất là thừa nhận một thực tế: đổi mới sáng tạo luôn đi kèm rủi ro. Một công nghệ mới có thể thất bại. Một mô hình quản trị mới có thể không đạt kết quả như dự tính. Một quyết định đầu tư vào công nghệ tiên phong có thể gây thiệt hại, dù tại thời điểm quyết định, phương án đó được đánh giá là hợp lý.
Nếu lấy kết quả cuối cùng để suy ngược lại trách nhiệm của người ra quyết định thì rất khó có người dám đi trước. Vì vậy, một quan điểm được đặt ra trong quá trình xây dựng Nghị quyết là phải tạo được vùng an toàn pháp lý cho đổi mới sáng tạo. Nhưng vùng an toàn ấy không thể được hiểu là vùng miễn trách nhiệm cho mọi quyết định mang nội hàm đổi mới. Ranh giới cần rất rõ: rủi ro hợp lý của đổi mới được bảo vệ; hành vi cố ý vi phạm, gian dối, thông đồng hoặc vụ lợi thì không.
Từ góc nhìn này, tôi nhận thấy dự thảo văn bản hiện giới hạn ở "ứng dụng" khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trong khi Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo xác định chín nhóm hoạt động và ứng dụng, chuyển giao công nghệ chỉ là một nhóm; Luật Chuyển đổi số xác định mười hai nhóm. Vùng rủi ro pháp lý cao nhất lại nằm ở đầu chuỗi: thuyết minh nhiệm vụ, mua sắm thiết bị nghiên cứu chưa có trên thị trường, sản xuất thử nghiệm, phát triển thử nghiệm hệ thống số chưa có sẵn, tức giai đoạn chưa hình thành sản phẩm để ứng dụng. Bảo vệ khâu ít rủi ro nhất mà bỏ trống khâu rủi ro nhất thì chính sách khó đi vào cuộc sống.
Bảo vệ người ngay tình khác với khoan hồng cho người đã vi phạm
Một điểm đáng chú ý trong dự thảo là cách tiếp cận ưu tiên khắc phục hậu quả và hạn chế sử dụng biện pháp hình sự: xem xét tổng thể hiệu quả chính trị, kinh tế, xã hội; ưu tiên các biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính; coi xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng. Hướng tiếp cận này có ý nghĩa tích cực, bởi trong nhiều vụ việc kinh tế, mục tiêu quan trọng không chỉ là xử lý con người mà còn phải thu hồi tài sản, khôi phục dự án, giải phóng nguồn lực đang bị đóng băng.
Nhưng chúng ta phải rất thận trọng để không đánh đồng hai chính sách khác nhau về bản chất. Vấn đề là phải xác định ngay từ đầu rằng rủi ro phát sinh từ một quyết định đổi mới hợp lý, không vụ lợi, được thực hiện minh bạch và có kiểm soát thì không nên bị xem như hành vi phạm tội.
Để tránh tình trạng khái niệm "dám nghĩ, dám làm" bị sử dụng quá rộng, tôi kiến nghị phân định ba tầng trách nhiệm ngay từ Nghị quyết này, và giữ nguyên khi luật hóa vào Bộ luật Hình sự.
Tầng thứ nhất là loại trừ trách nhiệm hình sự đối với rủi ro hợp lý. Đây mới thực sự là cơ chế bảo vệ người dám đổi mới: người hành động ngay tình, vì lợi ích chung, không vụ lợi, đúng phạm vi được giao, có cơ sở chuyên môn và đã kiểm soát rủi ro hợp lý thì thiệt hại phát sinh từ thất bại của hoạt động thử nghiệm không nên tự động dẫn đến trách nhiệm hình sự.
Tầng thứ hai là miễn trách nhiệm hình sự. Đã có hành vi vi phạm, nhưng tính chất, mức độ, động cơ và việc khắc phục hậu quả cho thấy không cần thiết tiếp tục xử lý hình sự thì áp dụng chính sách khoan hồng.
Tầng thứ ba là giảm nhẹ trách nhiệm. Với hành vi cố ý, đặc biệt khi có vụ lợi, thông đồng hoặc lợi ích nhóm, việc hoàn trả tài sản chỉ nên là một yếu tố để xem xét giảm nhẹ, không thể làm thay đổi bản chất của hành vi.
Càng mở không gian cho đổi mới, càng phải khóa chặt vụ lợi và gian dối
Chính sách càng nhân văn, linh hoạt bao nhiêu thì điều kiện chống lợi dụng càng phải chặt chẽ bấy nhiêu. Theo tôi, cần xác định rõ bốn nhóm trường hợp không được hưởng cơ chế bảo vệ trong mọi tình huống: có vụ lợi, tham nhũng, lợi ích nhóm; gian dối, giả mạo hồ sơ, làm sai lệch số liệu hoặc che giấu thông tin; thông đồng hoặc cố ý làm trái để ưu ái một chủ thể cụ thể; vi phạm những chuẩn an toàn bắt buộc nhằm bảo vệ tính mạng, môi trường, an ninh và các quyền cơ bản của con người.
Trong những trường hợp này, việc khắc phục hậu quả vẫn được xem xét theo chính sách hình sự chung, nhưng không thể gọi đó là bảo vệ người dám nghĩ, dám làm.
Cùng với đó, tôi cho rằng bảo vệ phải bắt đầu trước khi vụ việc trở thành vụ án. Nếu một cán bộ chỉ biết mình có được bảo vệ hay không sau khi đã trải qua thanh tra, kiểm tra, điều tra, thậm chí bị khởi tố, thì khó giải quyết tận gốc tâm lý sợ sai, né tránh trách nhiệm.
Đối với hoạt động thử nghiệm có rủi ro cao, cần có cơ chế xác lập trước phạm vi thử nghiệm, mục tiêu, rủi ro dự kiến, giới hạn thiệt hại được chấp nhận, cơ chế giám sát và nghĩa vụ công khai xung đột lợi ích.
Nếu người thực hiện tuân thủ đầy đủ những nội dung đã xác lập, không vụ lợi và không gian dối thì đó phải là căn cứ quan trọng khi đánh giá trách nhiệm. Điều cần tránh là biến cơ chế này thành một tầng thủ tục xin phép trước để được miễn trách nhiệm; bản chất của nó là làm rõ giới hạn rủi ro được phép ngay từ đầu, chứ không phải tạo thêm một cửa xin cho.
Cách tiếp cận ấy đồng thời là bộ lọc chống lợi dụng hiệu quả nhất, bởi điểm phân biệt căn bản giữa người đổi mới thực chất và người lợi dụng chính sách nằm ở thời điểm minh bạch. Người làm thật công khai rủi ro ngay từ đầu, khi chưa biết kết quả ra sao. Người vụ lợi thì che giấu, chỉ khi bị phát hiện mới dựng lập luận rằng mình đột phá vì lợi ích chung.
Ở chiều ngược lại, cũng cần tránh một thái cực khác: chỉ cần khắc phục được thiệt hại kinh tế thì trách nhiệm hình sự có thể được gạt bỏ. Một hành vi phạm tội về kinh tế không chỉ xâm phạm tài sản; trong nhiều trường hợp, nó còn xâm phạm tính liêm chính của bộ máy, trật tự quản lý nhà nước, môi trường cạnh tranh và niềm tin của xã hội. Đối với tham nhũng, thông đồng và vụ lợi, tiền có thể thu hồi nhưng hậu quả đối với thể chế không thể khắc phục đơn giản bằng việc trả lại tiền.
Một thay đổi trong tư duy pháp luật
Việc Chính phủ xác định sẽ nghiên cứu thể chế hóa những chính sách phù hợp vào Bộ luật Hình sự cho thấy ý nghĩa của Nghị quyết khi được ban hành vượt ra ngoài phạm vi một chính sách thí điểm. Theo tôi, một trong các giá trị lớn nhất của văn bản này là có thể mở đầu cho một thay đổi căn bản trong tư duy pháp luật: pháp luật không chỉ quy định người ra quyết định phải chịu trách nhiệm khi sai, mà còn phải xác định rõ họ được quyền chấp nhận rủi ro đến đâu khi hành động vì lợi ích chung.
Một nền kinh tế muốn đổi mới không thể yêu cầu mọi quyết định đều phải thành công. Nhưng một Nhà nước pháp quyền cũng không thể chấp nhận việc lấy đổi mới sáng tạo làm lý do để bỏ qua sự gian dối, vụ lợi hay lợi ích nhóm.
Tinh thần của chính sách này có thể cô đọng trong một ranh giới rất rõ: không hình sự hóa rủi ro hợp lý và thất bại ngay tình của đổi mới sáng tạo; nhưng tuyệt đối không lấy đổi mới sáng tạo làm tấm khiên che chắn cho tham nhũng, vụ lợi và hành vi cố ý vi phạm pháp luật. Chỉ khi xác lập được ranh giới đó bằng những tiêu chí đủ rõ, đủ khách quan và có thể kiểm chứng, Nghị quyết mới thực sự bảo vệ được người cần bảo vệ, đồng thời ngăn được người muốn lợi dụng chính sách.
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội; Phó Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam – Belarus.
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!










