168 trạm quan trắc bị can thiệp: Phơi bày “ô nhiễm ẩn” và bệnh thành tích

(Dân trí) - Vụ việc 168 trạm quan trắc môi trường bị can thiệp - tương đương hơn một nửa hệ thống trên cả nước, gióng lên hồi chuông cảnh báo về cách thức vận hành của cơ chế quản lý môi trường.

Quy trình kiểm soát khí thải, quan trắc môi trường như thế nào?

Thông tin với phóng viên Dân trí về quy trình kiểm soát khí thải, quan trắc môi trường hiện nay, lãnh đạo Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Nghị định 08/2022 của Chính phủ và Thông tư số 10/2021 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quy định tương đối đầy đủ.

Theo đó, đối với các cơ sở thuộc đối tượng phải quan trắc tự động, liên tục, doanh nghiệp có trách nhiệm lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải, khí thải tự động, liên tục. Hệ thống này phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về thiết bị đo, camera giám sát, hệ thống lấy mẫu tự động, bộ thu nhận và truyền dữ liệu.

168 trạm quan trắc bị can thiệp: Phơi bày “ô nhiễm ẩn” và bệnh thành tích - 1

Trạm quan trắc môi trường không khí quốc gia đặt tại Công viên Thanh Xuân, Hà Nội (Ảnh minh họa: NN&MT).

Doanh nghiệp phải truyền số liệu trực tiếp về cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương để theo dõi, giám sát. Dữ liệu truyền phải có đầy đủ thông số đo, kết quả đo, đơn vị đo, thời gian đo và trạng thái hoạt động của thiết bị.

Các cổng kết nối không sử dụng phải được niêm phong; tài khoản quản trị cao nhất phải được cung cấp cho Sở Nông nghiệp và Môi trường quản lý, kiểm soát cấu hình và phần mềm của hệ thống.

Đại diện Cục Môi trường khẳng định pháp luật hiện hành cũng quy định nhiều lớp giám sát hệ thống quan trắc tự động, liên tục.

Thứ nhất, doanh nghiệp phải tự vận hành, kiểm tra, bảo trì, hiệu chuẩn, kiểm định thiết bị và lập đầy đủ hồ sơ quản lý, nhật ký vận hành.

Thứ hai, hệ thống phải bảo đảm đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật theo quy định và phải được kiểm soát chất lượng khi đưa vào hoạt động chính thức và định kỳ hằng năm bởi đơn vị độc lập có đủ năng lực. Trong đó có nội dung kiểm tra vị trí quan trắc, tính năng thu thập, lưu giữ, truyền dữ liệu và phải thực hiện quan trắc đối chứng để đánh giá độ chính xác tương đối của hệ thống.

Thứ ba, Sở Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm giám sát dữ liệu quan trắc tự động, liên tục; đánh giá kết quả quan trắc, liên tục và so sánh với giá trị tối đa cho phép các thông số ô nhiễm theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Đồng thời theo dõi, kiểm tra việc khắc phục trong trường hợp dữ liệu quan trắc bị gián đoạn; phát hiện thông số giám sát vượt quy chuẩn kỹ thuật và đề xuất biện pháp xử lý theo quy định.

Về kiểm soát tính bảo mật của dữ liệu, các Sở được cung cấp tài khoản tối cao của hệ thống data logger (bộ ghi dữ liệu) nhằm thực hiện quản lý, kiểm soát các cổng kết nối, cấu hình và quá trình nâng cấp phần mềm điều khiển.

Sau khi công an khởi tố 74 bị can liên quan đến những sai phạm trong quan trắc môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đôn đốc các địa phương rà soát, kiểm tra đồng bộ việc kết nối, niêm phong cổng kết nối, quản lý tài khoản quản trị, camera giám sát cũng như lưu trữ dữ liệu gốc tại các hệ thống quan trắc.

Địa phương trực tiếp kiểm tra thực địa ống dẫn dòng thải và đường ống dẫn mẫu từ điểm lấy mẫu về buồng phân tích; kiên quyết xử lý nếu phát hiện các hành vi cố tình pha loãng mẫu, can thiệp dòng thải, lắp đặt đường ống ngầm không đúng quy định.

“Trường hợp phát hiện hành vi cố ý gian lận, làm sai lệch dữ liệu, đề nghị xử lý nghiêm theo quy định pháp luật, chuyển hồ sơ sang cơ quan công an nếu có dấu hiệu tội phạm”, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nêu rõ.

Muốn bảo vệ môi trường trước hết phải bảo vệ sự trung thực của dữ liệu

Tiến sĩ Tô Văn Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam, nói rằng đằng sau con số 168 trạm quan trắc bị can thiệp - tương đương hơn một nửa hệ thống trên cả nước, đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về cách thức vận hành của cơ chế quản lý môi trường.

Điều đáng lo ngại nhất không nằm ở quy mô mà nằm ở bản chất khi dữ liệu quan trắc vốn được xem như “hệ thần kinh” của quản lý môi trường bị bóp méo, toàn bộ quá trình ra quyết định sẽ bị dẫn dắt sai lệch.

“Một hệ thống dựa trên thông tin sai không thể tạo ra chính sách đúng. Khi đó, cái giá phải trả không chỉ là những con số trên báo cáo, mà là sức khỏe cộng đồng và sự bền vững của hệ sinh thái”, ông Trường bày tỏ.

168 trạm quan trắc bị can thiệp: Phơi bày “ô nhiễm ẩn” và bệnh thành tích - 2

Máy quan trắc môi trường bị can thiệp để chỉnh sửa dữ liệu (Ảnh: VTV).

Xả thải trái phép là hành vi gây ô nhiễm trực tiếp, có thể nhìn thấy, đo đếm và xử lý nếu hệ thống giám sát hoạt động đúng. Nhưng nguy hiểm hơn, việc làm sai lệch dữ liệu quan trắc lại đánh thẳng vào cơ chế phát hiện.

“Nó không chỉ che giấu vi phạm, mà còn khiến vi phạm trở nên “hợp pháp” trên giấy tờ. Khi dữ liệu bị thao túng, ô nhiễm không biến mất mà chỉ bị che khuất. Những “vùng ô nhiễm ẩn” có thể tồn tại trong thời gian dài mà không bị phát hiện, tích tụ thành những rủi ro môi trường nghiêm trọng. Người dân không có thông tin đúng để tự bảo vệ; chính quyền địa phương không chịu áp lực xử lý. Và hệ sinh thái tiếp tục bị bào mòn một cách âm thầm. Đó chính là dạng “ô nhiễm vô hình” nhưng có hệ quả hữu hình rất lớn”, Tiến sĩ Trường phân tích.

Nguy hiểm hơn, theo vị chuyên gia môi trường, nếu những hành vi gian lận không bị phát hiện và xử lý nghiêm minh sẽ dần trở thành một dạng “chuẩn mực ngầm”. Khi đó, cái sai không còn bị coi là sai, mà trở thành thói quen. Người tuân thủ quy định có thể bị cô lập, thậm chí chịu áp lực ngược.

Đáng lo ngại hơn, ông Trường bày tỏ việc hơn 50% số trạm quan trắc có thể bị can thiệp cho thấy đây không còn là hiện tượng cá biệt và phản ánh một thực trạng sâu xa hơn - “bệnh thành tích” trong quản lý.

168 trạm quan trắc bị can thiệp: Phơi bày “ô nhiễm ẩn” và bệnh thành tích - 3

Kết quả điều tra bước đầu của công an xác định 168/306 trạm được kiểm tra có sự can thiệp, chỉnh sửa dữ liệu phân tích môi trường, chiếm hơn 54,9% (Ảnh: VTV).

Khi áp lực phải có “số liệu đẹp” lớn hơn yêu cầu phản ánh đúng thực trạng, dữ liệu rất dễ bị điều chỉnh nhằm phục vụ mục tiêu báo cáo. Lỗ hổng lớn nhất nằm ở sự kết hợp giữa con người và cơ chế quản lý. Nói cách khác, công nghệ có thể bị lợi dụng, nhưng chính con người và thể chế mới quyết định hệ thống có bị vô hiệu hóa hay không.

Trong vụ việc trên, trách nhiệm cần được nhìn nhận rõ ràng. “Một hệ thống quan trắc bị bóp méo không chỉ làm sai lệch con số, mà làm sai lệch cả nhận thức và hành động. Khi đó, chúng ta không chỉ mất đi dữ liệu đáng tin cậy, mà còn đánh mất khả năng tự bảo vệ mình trước những rủi ro môi trường. Vụ việc cần được nhìn nhận như một lời cảnh tỉnh nghiêm khắc: muốn bảo vệ môi trường, trước hết phải bảo vệ sự trung thực của dữ liệu”, chuyên gia Tô Văn Trường thẳng thắn.