Danh nhân văn hóa kiệt xuất và nhà ngoại giao lỗi lạc Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 125 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh đã có bài viết "Chủ tịch Hồ Chí Minh: Sự kết hợp hài hòa giữa danh nhân văn hóa và nhà ngoại giao".
Hồ Chủ tịch là một nhà ngoại giao kiệt xuất. Người là Chủ tịch nước kiêm Bộ trưởng ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Là cha đẻ của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, Người trực tiếp soạn thảo đường lối đối ngoại, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện các hoạt động đối ngoại, đưa ngoại giao trở thành một mặt trận, đóng góp to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Bản thân ngoại giao là văn hóa. Ngoại giao đại diện cho văn hóa của một dân tộc trong sự giao lưu với văn hóa của các dân tộc khác. Sự kết hợp hài hòa giữa danh nhân văn hóa kiệt xuất và nhà ngoại giao lỗi lạc trong Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện rõ nét ở tính văn hóa trong mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng con người và đấu tranh vì những giá trị tốt đẹp của nhân loại; ở tính chính nghĩa và truyền thống ngoại giao hòa hiếu, nhân đạo, tôn trọng hòa bình; ở sự tiếp thu và tôn trọng sự khác biệt giữa các nền văn hóa; và ở phong cách ứng xử ngoại giao dung dị và nhân ái, uyên bác và tinh tế đi vào lòng người.
Mục tiêu đối ngoại đầy nhân văn
Độc lập dân tộc là mục tiêu xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu các hoạt động đối ngoại từ khi ra đi tìm đường cứu nước vào năm 1911. Người thực hiện rất nhiều dạng hoạt động, từ giao lưu với nhân dân, tiếp xúc với báo chí, lập hội, viết báo viết sách nói về nỗi thống khổ của nhân dân Việt Nam, nhân dân các dân tộc thuộc địa, tố cáo tội ác của thực dân, đế quốc. Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Từ khi Đảng ta ra đời, dưới sự lãnh đạo của Người, độc lập dân tộc luôn luôn là mục tiêu cao nhất của đối ngoại. Các hoạt động của Người dù với tư cách là một nhà cách mạng hay là nguyên thủ quốc gia đều thể hiện rõ rệt mục tiêu này.
Với một dân tộc vùng lên thoát khỏi ách thống trị của thực dân, mục tiêu đối ngoại vì độc lập dân tộc chính là kết tinh của các giá trị văn hóa. Độc lập là mục tiêu chính trị nhưng xét cho cùng, đây cũng là mục tiêu văn hóa. Giá trị cao nhất của văn hóa là con người được sống trong độc lập, tự do. Mục tiêu đối ngoại vì độc lập dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi suốt cuộc đời cũng là kế thừa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Bài hịch của vua Quang Trung năm 1789 đã nói rõ một trong các mục đích đánh giặc Thanh là, “đánh cho để dài tóc, đánh cho để răng đen.” Bảo vệ độc lập dân tộc cũng chính là để bảo vệ nền văn hóa dân tộc, chỉ trong điều kiện có độc lập, những truyền thống và tinh hoa văn hóa dân tộc mới được gìn giữ và phát huy.
Không chỉ dừng lại ở mục tiêu giành độc lập dân tộc, với cốt cách của một danh nhân văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng tới mục tiêu cuối cùng là bảo đảm các quyền cơ bản và mang lại hạnh phúc của nhân dân. Khi soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ - văn kiện đối ngoại đầu tiên và cơ bản của nước ta - Người đã nêu rõ “Con người sinh ra ai cũng có quyền bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền cơ bản đó. Đó là quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”[3]. Người cũng nhấn mạnh, "Nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”.[4]
Nói cách khác, với mục tiêu đối ngoại đậm chất nhân văn, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là một nhà văn hóa lớn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khẳng định: “Sự nghiệp văn hóa quan trọng nhất của Người là đã lãnh đạo toàn dân đánh đuổi giặc ngoại xâm trong thời đại mới, giành lại cho nhân dân những quyền sống của con người, một cuộc sống có văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với loài người loại trừ một trở lực to lớn trên con đường tiến lên thế giới văn minh, xóa đi một vết nhơ trong lịch sử là chế độ thuộc địa.”
Phương châm đối ngoại đậm nét văn hóa
Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa luôn được thể hiện vô cùng rõ nét, nhất là trong cách hành xử theo phương châm coi trọng hòa hiếu, hòa bình, đề cao văn hóa đối thoại trong quan hệ với các nước, kể cả với kẻ thù xâm lược.
Cũng như vậy, trong kháng chiến chống Mỹ, Người đã gửi nhiều thông điệp cho các nhà cầm quyền Mỹ, đề nghị đàm phán hòa bình để kết thúc chiến tranh. Khi quân Mỹ tăng cường chiến tranh, một mặt Người kêu gọi quân dân ta “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược,” đồng thời chủ trương vừa đánh vừa đàm để kết thúc chiến tranh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đối ngoại rộng mở với phương châm “thêm bạn bớt thù”, “phải làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết,”[8] và tránh đối đầu “không gây thù oán với một ai.” Phát biểu nhân dịp Quốc khánh lần thứ 10 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1955), Người tuyên bố: “Trong quan hệ đối với các nước khác, chính sách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là rõ ràng và trong sáng: đó là một chính sách hòa bình và quan hệ tốt.”[9]
Như vậy, lập trường yêu chuộng hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa rõ ràng, nhất quán vừa thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa ý chí quyết tâm bảo vệ hòa bình không chỉ cho đất nước mình mà còn góp phần giữ nền hòa bình chung. Người nói: “Nhân dân Việt Nam tin chắc rằng mọi sự phân tranh trên thế giới đều có thể giải quyết bằng cách hòa bình; tin chắc rằng các nước dù có chế độ xã hội khác nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thể chung sống hòa bình được.”[10]
Tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia dân tộc khác theo quan điểm “mình chớ làm cho người những điều không muốn người làm cho mình” cũng luôn là một nguyên tắc nhất quán và xuyên suốt trong văn hóa ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người nói” “Nhân dân Việt Nam vĩnh viễn không để cho bất cứ kẻ nào xâm lược nước mình, đồng thời cũng vĩnh viễn không xâm lược nước khác. Nhân dân Việt Nam luôn luôn ủng hộ tất cả những cuộc đấu tranh chống xâm lược và bảo vệ hòa bình thế giới”.
Không muốn đất nước phải chịu cảnh chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không muốn đem chiến tranh đến với các nước khác. Như vậy, tư tưởng nhân đạo, đề cao chính nghĩa, đạo lý vì hòa bình và cuộc sống độc lập tự do hạnh phúc của nhân dân tất cả các dân tộc của Người đã là biểu hiện văn hóa nhất của nhân loại. Với tư tưởng nhân văn ấy, trong hoạt động ngoại giao của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương phát huy pháp lý quốc tế, vận dụng những giá trị của văn hóa và của ngoại giao truyền thống Việt Nam, cũng như các tư tưởng phổ biến, tiến bộ của nhân loại, luôn chú ý tìm ra những điểm đồng, nêu cao nhân nghĩa và đạo lý trong quan hệ quốc tế để thuyết phục, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới và đấu tranh với đối phương.
Ngoài ra, nắm vững “ngũ tri” và luôn “biết mình, biết người” xác định được đúng vị trí của mình trong quan hệ với các nước là một nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt trong ứng xử ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhận thức được vai trò và vị thế Việt Nam là một nước nhỏ, Người vận dụng nhuần nhuyễn phương pháp tư duy phương Đông về “Ngũ tri” (năm cái biết - biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến) trong quan hệ quốc tế, đặc biệt là trong quan hệ với các nước lớn.
Đây là sự đúc rút kinh nghiệm ứng xử ngoại giao đầy chất văn hóa trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt nam. Đây cũng chính là sự thông hiểu và nắm bắt các tinh hoa văn hóa Đông – Tây trong việc theo đuổi các mục tiêu đối ngoại của Việt nam. Chính vì cái gốc văn hóa đó, Người luôn giành được sự thông cảm và thấu hiểu cao nhất của thế giới đối với sự nghiệp đấu tranh của nhân dân Việt nam.
Phong cách đối ngoại tinh tế và sâu sắc
Phong cách trong hoạt động ngoại giao thể hiện cả đạo đức và nhân cách văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là sự kết hợp hài hòa giữa các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại của phương Đông và phương Tây. Nói cách khác, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện sự nhất quán giữa những nguyên tắc, phương châm đối ngoại văn hóa với hành vi ngoại giao cụ thể của Người. Những cử chỉ tinh tế trong đối ngoại của Người vừa là biểu hiện rất cụ thể của các khái niệm văn hóa vốn vô cùng trừu tượng, cũng như các mục tiêu đối ngoại rất to lớn.
Trước hết, sự nhất quán giữa phương châm đối ngoại hòa hiếu, nhân đạo và phong cách ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh được thể hiện qua những cử chỉ chân thành, thể hiện lòng yêu chuộng hòa bình của Người và trong cách đối xử nhân đạo với kẻ thù, cũng như trong sự thủy chung và tình người đặc biệt mà Người đã dành cho các nước bạn bè của Việt Nam.
Phong cách ngoại giao đầy tính khoan dung cũng luôn được thể hiện trong cách Người nói về những mất mát của chính những người lính trong hàng ngũ kẻ thù. Người viết: “Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh. Tôi cũng ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong. Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”[12]. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Người bày tỏ: “Tôi vô cùng công phẫn trước những tổn thất và tàn phá do quân Mỹ gây ra cho nhân dân và đất nước chúng tôi, tôi cũng rất xúc động thấy ngày càng có nhiều thanh niên Mỹ chết vô ích ở Việt Nam.”[13]
Sự độ lượng này của Người đã tranh thủ được tình cảm của nhân dân Pháp. Các sĩ quan Mỹ từng tiếp xúc và làm việc với Chủ tịch Hồ Chí Minh đều dành sự kính trọng và cảm phục tuyệt đối tới Người. Chính vì vậy, mặc dù Người lãnh đạo dân tộc Việt Nam đánh bại cả ba đế quốc to cùng với mọi thế lực phản động trong nước nhưng Người không có kẻ thù riêng nào.
Coi trọng quan hệ với các nước lớn, nhưng Người cũng không quên đối xử bình đẳng và chân thành, thủy chung với các nước bạn bè anh em. Đón đoàn cấp cao Lào thăm Việt Nam tháng 3 năm 1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một dải đất, có cùng chung một dãy núi Trường Sơn. Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau như anh em… Tình láng giềng anh em Việt-Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được”[14].
Trong thông điệp gửi cho nhân dân Ấn Độ, Người nhấn mạnh: “Nhân dân hai nước chúng ta đã có những quan hệ anh em từ lâu đời. Nền văn hóa và Đạo Phật của Ấn Độ đã truyền sang Việt Nam từ thời cổ. Dưới ách thống trị của thực dân, quan hệ giữa hai nước chúng ta bị gián đoạn trong một thời kỳ. Nhưng tình hữu nghị cổ truyền luôn luôn gắn bó hai dân tộc chúng ta”[15]. Phong cách ứng xử ngoại giao giàu tính văn hóa của Người đã tranh thủ được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn từ bạn bè quốc tế, góp phần kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, mang lại thành công to lớn cho cách mạng Việt Nam.
Cao hơn thế, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong cách ứng xử văn hóa trong đối ngoại là phong cách chứa đựng những giá trị nhân bản nhất của con người, bất kể là phương Đông hay phương Tây. Chính vì thế mà phong cách ấy có sức hút và cảm hóa vô cùng lớn, tạo nên sự cảm phục và ngưỡng mộ cho những ai đã từng tiếp xúc với Người, tạo nên sức mạnh to lớn của ngoại giao “tâm công” mà Người đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật vận dụng. Nhờ có vốn sống phong phú, sự am hiểu văn hóa phong tục tập quán của nhiều dân tộc trên thế giới, và đặc biệt là thông thạo nhiều ngoại ngữ, Người có thể nhanh chóng cảm nhận được văn hóa, tâm lý cùng sở thích, ý định của người đối thoại, để lựa chọn cách ứng xử thích hợp. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào Người cũng luôn tìm ra cách ứng xử phù hợp nhất.
Chính phong cách ứng xử ấy đã mang lại sự cảm phục, yêu mến đối với Người. Thủ tướng Ấn Độ Neru từng nói: “Chúng ta được tiếp xúc với một người, người ấy là một phần lịch sử của châu Á. Ngoài phần gặp gỡ một con người vĩ đại, chúng ta không chỉ được tăng thêm về sự hiểu biết, mà chúng ta còn lớn lên về tầm vóc. Được gặp người ấy, một con người từng trải khiến chúng ta trở nên tốt hơn.” Phong cách ứng xử nhân văn ấy còn được nhà nghiên cứu Mỹ David Halberstam ghi nhận: “Toàn thể con người của Ông toát lên một phong thái bình dị và tế nhị bẩm sinh…Ông là tiêu biểu cho một nền văn hóa, không phải là nền văn hóa châu Âu mà có lẽ tiêu biểu cho nền văn hóa tương lai”[16].
Sự kết hợp hài hòa giữa nhà danh nhân văn hóa và nhà ngoại giao trong Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần tạo nên một lãnh tụ lỗi lạc của dân tộc Việt Nam và của nhân loại. Tầm vóc vĩ đại của những tư tưởng văn hóa trong ngoại giao và những cống hiến to lớn của Người cho nền văn hóa nước nhà và nền văn hóa nhân loại đã được toàn thế giới công nhận. Người là biểu tượng của sự kết hợp nhuần nhuyễn và hài hòa giữa tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại. Trong nền ngoại giao Hồ Chí Minh, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện, vừa là nguyên tắc phương châm đối ngoại và được thể hiện qua cách ứng xử đối ngoại rất văn hóa của Người.
Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
[1] Nghị quyết của UNESCO về việc tôn vinh Hồ Chí Minh, 1990.
[2] Nghị quyết O3 NQ/TW Về việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, 16/07/1998.
[3] Hồ Chí Minh: Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945.
[4] Hồ Chí Minh Biên niên tiêu sử, tập 3, NXB CTQG 2006, trang 50.
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr187
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, NXB CTQG 2000, tập 8 trang 44.
[7] Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, NXB CTQG 2006, tập 4 trang 19
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.10, tr.605.
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.8, tr.58.
[10] Hồ Chí Minh toàn tập, Sdd, t.8, tr.4-5.
[11] Tài liệu lưu trữ Bộ Ngoại giao
[12] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, t.4, tr.457
[13] Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.12, tr.488
[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, tr.37.
[15] Hồ Chí Minh: sdd, t.9, tr.38.
[16] Đặng Xuân Kỳ, Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.223