Vị thế mới của Việt Nam!
Thế giới đã và đang trải qua những biến động mang tính thời đại, đan xen nhiều bất ổn và rủi ro. Đại dịch, xung đột, cạnh tranh, xu hướng bảo hộ và các biện pháp thuế quan đã tạo ra những “cơn gió ngược” mạnh mẽ, khiến bức tranh toàn cầu hiện lên với nhiều thách thức hơn là cơ hội.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã thể hiện rõ năng lực chống chịu, bản lĩnh và sự tự tin để vượt qua khó khăn, tạo dựng cơ hội và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về ổn định chính trị, phát triển kinh tế và nâng cao vị thế đối ngoại, được khu vực và thế giới đánh giá cao. Những thành quả này là điều mà mỗi người dân Việt Nam đều có thể cảm nhận và tự hào. Bầu không khí ấy được thể hiện rõ qua các sự kiện lớn gần đây, như kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9 – nơi tinh thần dân tộc và niềm tin vào tương lai đất nước được khơi dậy mạnh mẽ.

Pano, áp phích tại vòng xoay trước cửa Nhà hát Lớn Hà Nội chào mừng Đại hội lần thứ XIV của Đảng (Ảnh: Mạnh Quân).
Trước thềm Đại hội thứ XIV của Đảng và trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng lần đầu tiên xác định “đối ngoại, hội nhập quốc tế” đặt ngang hàng với quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, đồng thời đặt ra yêu cầu “phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước”. Theo tôi, thông điệp này hàm chứa hai nội dung cốt lõi:
Thứ nhất, Việt Nam với vị thế mới.
Điều này được phản ánh rõ nét qua những thành tựu sau gần 40 năm Đổi mới trong phát triển và hội nhập quốc tế. GDP hiện nay đã vượt mốc 510 tỷ USD, kim ngạch thương mại năm 2025 đạt khoảng 920 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người trên 5.000 USD/năm. So với thời điểm bắt đầu Đổi mới, khi GDP chỉ chưa đầy 20 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người dưới 100 USD, có thể thấy bước tiến vượt bậc của nền kinh tế và mức độ hội nhập quốc tế của Việt Nam. Quy mô kinh tế thuộc nhóm 32 nước lớn nhất thế giới và thương mại nằm trong top 20. Độ mở thương mại đạt 160–180% GDP cho thấy Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế hội nhập sâu rộng với thế giới.
Về đối ngoại, Việt Nam đã phát triển quan hệ với tất cả 195 quốc gia ở các châu lục trên thế giới; cùng với đó là mạng lưới đối tác với hơn 40 quốc gia – từ đối tác toàn diện đến đối tác chiến lược và chiến lược toàn diện – trong đó, mức đối tác cao nhất bao gồm tất cả 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các đối tác chủ chốt của Việt Nam. Chính điều này giúp tạo dựng một môi trường chiến lược thuận lợi cho hòa bình, an ninh và phát triển.
Cùng với đó là 17 hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, kết nối Việt Nam với hơn 60 đối tác kinh tế hàng đầu thế giới. Việt Nam cũng tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, cũng như lực lượng gìn giữ hòa bình. Tất cả các yếu tố này phác họa rõ nét hình ảnh một “Việt Nam mới”, năng động, hội nhập và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Thứ hai, Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới với tầm nhìn phát triển mới, trong đó đối ngoại giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Mục tiêu xây dựng một Việt Nam thịnh vượng, thu nhập cao, người dân hạnh phúc và đất nước hùng cường đang được cụ thể hóa bằng hàng loạt nghị quyết của Bộ Chính trị nhằm tái cấu trúc quản trị quốc gia, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng chất lượng cao và bền vững, đồng thời thúc đẩy các động lực phát triển mới như kinh tế tư nhân, đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế. Đây chính là nền tảng quan trọng để tạo ra những đột phá mới trong đối ngoại.
Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của dân tộc đòi hỏi chúng ta phải phát huy vị thế của 40 năm Đổi mới và tầm nhìn chiến lược cho kỷ nguyên mới, đồng thời tiếp nối chiều sâu văn hóa, lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Cá nhân tôi rất tâm đắc chia sẻ một số ý sau:
Một là, Việt Nam đã đủ tư thế để đặt mình vào những dòng chảy chính của thời đại, đó là hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển. Việc chủ động hòa vào dòng chảy chính đó sẽ giúp Việt Nam kịp thời nắm bắt được các xu thế lớn, nhân lên những giá trị phổ quát chung về tiến bộ xã hội, đẩy mạnh thượng tôn pháp luật quốc tế, từ đó vừa nâng cao vị thế đất nước, vừa kết hợp hiệu quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Hai là, Việt Nam chủ trương tham gia một cách “chủ động và tích cực” vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại. Trên phương diện chính trị, đó là tự tin, chủ động cùng các quốc gia xây dựng môi trường hợp tác dựa trên luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, theo các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc. Trên phương diện kinh tế, thúc đẩy hợp tác thực chất, hiệu quả. Trên phương diện văn minh nhân loại, Việt Nam đóng góp và lan tỏa những giá trị chung cốt lõi như hòa bình, hữu nghị, hợp tác và nhân văn.
Ba là, tư duy đối ngoại trong kỷ nguyên mới chuyển từ “tham gia và tranh thủ” sang “đồng hành và kiến tạo”. Điều này có nghĩa là Việt Nam không chỉ tham gia các tiến trình quốc tế, bảo đảm tăng cường hơn nữa thượng tôn pháp luật quốc tế mà còn chủ động cùng các nước xây dựng luật chơi, chuẩn mực và cơ chế hợp tác mới, nhất là trong bối cảnh thế giới biến động khó lường và đang bộc lộ nhiều khoảng trống trong quản trị toàn cầu. Đại dịch Covid-19 hay sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) là những ví dụ điển hình cho thấy nhu cầu cấp thiết về quản trị và hợp tác quốc tế, bao gồm việc xây dựng các bộ quy tắc và “sân chơi” chung nhằm bảo đảm lợi ích lâu dài của nhân loại.
Để hiện thực hóa những định hướng lớn trên, Đảng xác định đối ngoại là một nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, gắn bó chặt chẽ với “quốc phòng” và “an ninh”. Trong bối cảnh các vấn đề chính trị, kinh tế và an ninh ngày càng đan xen, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba trụ cột này là yêu cầu tất yếu nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia và tận dụng hiệu quả các cơ hội từ bên ngoài. Theo đó, cả ba bộ, ngành phải thường xuyên phối hợp, tham mưu cho Đảng và trở thành nòng cốt trong kiến nghị những đối sách liên quan phát triển đất nước cũng như hội nhập quốc tế.
Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế cần được nâng lên một tầm cao mới, không chỉ mở rộng về quy mô mà còn đi sâu vào chất lượng và tính bền vững. Trọng tâm là khai thác các động lực tăng trưởng mới như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; tham gia sâu hơn vào các phân khúc giá trị cao của chuỗi cung ứng toàn cầu; đồng thời tiếp tục làm sâu sắc mạng lưới đối tác để tạo thế đan xen lợi ích, củng cố môi trường chiến lược cho hòa bình, an ninh và phát triển.
Bước vào kỷ nguyên mới, đối ngoại Việt Nam tất yếu phải phát triển tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của dân tộc. Đối ngoại và đối nội cần song hành, trong đó nội lực là nền tảng, còn đối ngoại giữ vai trò tiên phong trong việc mở đường và tranh thủ cao hơn cho những mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Tôi tin tưởng rằng, với những thành tựu đã đạt được, với nền tảng đổi mới và với tầm nhìn của kỷ nguyên mới, đối ngoại Việt Nam trong thời gian tới sẽ tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò, đóng góp ngày càng hiệu quả cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Tác giả: Ông Phạm Quang Vinh nguyên là Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Ông từng có 7 năm làm Trưởng Hội nghị Quan chức cao cấp ASEAN – Việt Nam.
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!




















