Khi trẻ thơ vui, buồn với robot AI
Trên sóng đài truyền hình quốc gia dịp Tết, tôi xem một bản tin khá đặc biệt: một gia đình ở Hà Nội “chào đón thành viên mới” - một chú robot trí tuệ nhân tạo (AI) biết nói chuyện do chính người mẹ tự lập trình để làm bạn và hỗ trợ con học tập.
Trong căn phòng nhỏ, đứa bé đặt robot cạnh giường, mỉm cười thì thầm: “Mình rất hạnh phúc vì mẹ đã tạo ra bạn và bạn là bạn của mình”. Người mẹ kể con còn “mang ngô cho AI ăn”, điều này phản ánh con đã có những hành động chăm chút như với một sinh thể có cảm xúc.
Tôi không phủ nhận tình yêu của người mẹ ấy. Bởi không cha mẹ nào làm điều gì cho con mà không xuất phát từ những mong muốn tốt đẹp. Câu chuyện ấy không đơn thuần dừng ở một sáng kiến công nghệ đáng khen, tôi nghĩ còn nhiều vấn đề đáng bàn hơn thế.
Thực tế, trẻ em bây giờ không chỉ dùng AI để làm bài tập. Các con nói chuyện với AI như nói với một người bạn. Hỏi những điều ngại hỏi cha mẹ. Kể những chuyện chẳng biết tâm sự cùng ai. Có em còn gửi gắm cả những rung động đầu đời với một “bạn thân ảo” luôn sẵn sàng lắng nghe, luôn đáp lại dịu dàng. Bởi trong cuộc sống thường ngày, không phải lúc nào trẻ cũng dễ dàng tìm được sự đồng điệu từ bạn bè và thoải mái chia sẻ những vấn đề cá nhân, không phải lúc nào cũng được thầy cô khen ngợi, động viên.

Công nghệ ngày càng trở nên gần gũi với trẻ (Ảnh minh họa: Canva).
Ai trong chúng ta cũng đều trải qua một tuổi thơ bộn bề, ngổn ngang những khúc mắc lứa tuổi, như: bị chê, bị hiểu lầm, giận hờn, thất vọng, mâu thuẫn. Có khi bị la mắng, thậm chí là “thương cho roi cho vọt”. Thế nhưng, chính những va chạm ấy, trải nghiệm ấy mới chính là “sức đề kháng” dạy chúng ta biết nhận định đúng - sai, phải - trái, biết nhẫn nại, biết tự điều chỉnh, biết chịu trách nhiệm với cảm xúc, hành động, lời nói của mình.
Ông bà mình có câu “chiều quá sinh hư”. Nếu một đứa trẻ quen với việc thế giới phản hồi theo cách mình muốn, liệu chúng có đủ khả năng quản lý cảm xúc và những kỹ năng phản ứng, hành xử khi bước ra đời thực? Tôi e rằng những kỹ năng xử lý tình huống của các em sẽ yếu đi, sự bốc đồng dễ tăng lên, hoặc tệ hơn, các con chọn rút lui khỏi những quan hệ đời thực vì thấy “ngoài kia” quá phức tạp.
Chính sự an toàn tuyệt đối ấy có thể làm méo mó nhận thức, tâm lý dễ rời xa đời sống thật. Trong khi đời sống xã hội vốn là sự tương tác hai chiều, thậm chí nhiều chiều, đầy khác biệt và xung đột.
Một nghiên cứu năm 2023 của Hiệp hội Tâm lý học Mỹ (APA) phát hiện rằng các nguồn cấp nội dung do AI điều khiển, tối ưu hóa theo mức độ tương tác làm tăng tình trạng lo âu, trầm cảm và rối loạn hình ảnh cơ thể ở thanh thiếu niên. Báo cáo của Trung tâm Phát triển Trẻ em thuộc Đại học Harvard nhấn mạnh, sự tương tác trực tiếp qua ánh mắt nhìn nhau, giọng nói thật, phản ứng cảm xúc thật là nền tảng để hình thành trí tuệ cảm xúc và khả năng tự điều chỉnh. Não bộ trẻ nhỏ phát triển mạnh mẽ nhất trong môi trường “serve and return” (tung - hứng, phát đi - trả lại), một khái niệm trong giáo dục sớm, mô tả cách người lớn và trẻ nhỏ tương tác qua lại với nhau, giúp xây dựng các kết nối thần kinh trong não trẻ. Nghiên cứu cho thấy trẻ được tương tác qua lại thường xuyên với người lớn từ nhỏ sẽ có nền tảng phát triển tốt hơn về lâu dài.
Đáng chú ý, trong một cuộc phỏng vấn được báo chí Nhật Bản đăng tải, một phụ nữ cho hay ban đầu AI “chỉ là người để tôi trò chuyện”. Nhưng rồi, khi những cuộc trò chuyện ấy kéo dài, cô bắt đầu nảy sinh tình cảm. Câu chuyện ấy nghe qua có thể bị xem là cá biệt, thậm chí lạ lùng. Nhưng tôi không còn thấy nó quá xa lạ bởi xu hướng “tình bạn ảo”, “kết hôn ảo” đang tăng lên rõ rệt ở nhiều quốc gia. Một nghiên cứu khác ở quốc gia này cho thấy 22% nữ sinh trung học cơ sở thừa nhận có khuynh hướng yêu nhân vật hư cấu vào năm 2023, tăng mạnh so với mức 16,6% của năm 2017.
Chúng ta đều biết rằng môi trường mạng vô cùng thiếu an toàn cho trẻ em. Đặc biệt là khi AI hiện diện, những nguy cơ còn đi sâu hơn, âm thầm hơn, len lỏi vào bên trong đời sống cảm xúc của những đứa trẻ.
Chỉ trong ít năm trở lại đây, từ một “công cụ” hỗ trợ, AI dần được gọi bằng những danh xưng giàu cảm xúc: “bạn thân”, “thành viên trong gia đình”,… Trong “kỷ nguyên số” có lẽ sẽ còn nhiều thứ diễn biến nhanh hơn nữa. Tuy nhiên, tôi cho rằng, tốc độ của công nghệ không đồng nghĩa với tốc độ trưởng thành của cảm xúc. Một đứa trẻ có thể sử dụng thiết bị thành thạo, nhưng vẫn vụng về khi đối diện mâu thuẫn với bạn bè, có thể nhập câu lệnh trôi chảy nhưng lại lúng túng khi nói lời xin lỗi trước người khác.
Tôi băn khoăn về khả năng tập trung của trẻ, về sự phụ thuộc hình thành rất âm thầm giữa trẻ đối với AI. Sẽ ra sao khi một ngày, cả thế giới trong mắt đứa trẻ thu nhỏ lại trong một trợ lý AI, để rồi rời khỏi thiết bị, đứa trẻ ấy sẽ trở nên lạc lõng, bơ vơ, thậm chí là cô độc, không biết bám víu vào ai ngoài một màn hình sáng?
Không khó để hình dung về viễn cảnh ấy. Bởi nói cho cùng thì việc gửi gắm con cho thiết bị AI cũng không khác là bao hành động phó mặc con với thiết bị điện tử như điện thoại di động, máy chơi game, máy tính bảng, laptop, TV… để rảnh rang làm việc khác. Mạng xã hội Facebook, YouTube, Tiktok… với hằng hà sa nội dung không phù hợp trở thành “bảo mẫu” của trẻ nhỏ. Thậm chí, tại nhiều gia đình, giao tiếp giữa con cái với bố mẹ trở nên hiếm hoi và hời hợt, mỗi người một chiếc điện thoại, chìm đắm trong một thế giới riêng. Dần dà, con cái chỉ có trải nghiệm với máy móc, sợi dây liên kết với bố mẹ trở nên nhạt nhòa.
Chính bởi thiết bị công nghệ có những mặt trái khó kiểm soát nên nhiều quốc gia đã hành động để bảo vệ sự phát triển lành mạnh của trẻ. Chẳng hạn, Liên minh châu Âu quy định các nền tảng số phải có cơ chế bảo vệ nghiêm ngặt với người dùng dưới 16 tuổi. Australia đã thông qua luật hạn chế trẻ dưới 16 tuổi sử dụng mạng xã hội. Trung Quốc đưa ra những quy định nghiêm ngặt và cụ thể khi có hệ thống quản lý phân cấp thời gian sử dụng thiết bị theo độ tuổi: 40 phút/ngày cho trẻ dưới 8 tuổi; 2 tiếng/ngày cho thiếu niên từ 16-17 tuổi.
Tại Việt Nam, câu chuyện quản lý thời gian và cách trẻ tiếp cận thiết bị công nghệ nói chung và AI nói riêng phần lớn vẫn là lựa chọn cá nhân của từng gia đình.
Tôi không nghĩ giải pháp nằm ở việc cấm đoán cực đoan bởi trẻ có thể tiếp xúc, ứng dụng và học cách sử dụng AI như một kỹ năng mới trong thời đại số này. Nhưng, trước khi dạy con cái sử dụng AI, các bậc phụ huynh cần cho con một tuổi thơ đúng nghĩa. Cần mang đến cho con một nền tảng đủ vững về cảm xúc và nhận thức trước khi trao vào tay con các thiết bị thông minh.
Dù ở thời đại nào chăng nữa, tuổi thơ của trẻ luôn cần sự hiện diện, đồng hành của cha mẹ, được dùng đủ năm giác quan để cảm nhận thế giới thực đẹp đẽ xung quanh. Đó là khi con được ngồi cạnh cha mẹ trong một bữa cơm không vội, được chạy ngoài sân đến khi lấm lem bụi đất, được nhìn nắng xuyên qua tán lá hay nghe tiếng mưa rơi đồm độp trên mái nhà, những điều tưởng như rất nhỏ đó lại âm thầm tạo nên cảm xúc bên trong… Từ những trải nghiệm thật ấy, con học cách vui, cách buồn, cách quan tâm đến người khác. Lòng trắc ẩn cũng theo đó lớn lên.
Thế nên, tôi cũng rất ngưỡng mộ những bậc làm cha mẹ, dẫu bận rộn và có điều kiện kinh tế, nhưng họ vẫn luôn nỗ lực chắt chiu thời gian để dạy con học, đưa đón con đến trường, vui chơi, trò chuyện cùng con. Trải nghiệm của con bên bố mẹ là không thể thay thế. Và đó có lẽ là món quà lớn nhất mà mỗi đứa trẻ cần từ cha mẹ, hơn bất kỳ thiết bị công nghệ, bất kỳ trợ lý ảo nào!
Tác giả: Đặng Việt Trinh là cây bút trẻ có nhiều bài đăng ở các tờ báo, tạp chí trong nước; hiện chị là chuyên gia truyền thông trong lĩnh vực bất động sản và giáo dục.
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!










