Tâm điểm

Động lực mạnh mẽ của công nghiệp văn hóa Việt Nam

Một lần tình cờ, đồng nghiệp cùng cơ quan hỏi tôi: “Anh có hay nghe nhạc không?”. Câu hỏi tưởng chừng rất đơn giản nhưng tôi sững lại một lúc để suy nghĩ.

Thập niên 1980 của thế kỷ trước, âm nhạc đến với tôi chủ yếu qua 3 hình thức: mỗi khi khu tập thể mất điện, bố tôi thường chơi đàn ghi-ta hay măng-đô-lin; hai là những băng cassette thu các bản nhạc qua bạn bè hay những tập đĩa than cũ kỹ; và phổ biến nhất là qua chương trình ca nhạc xem trên chiếc TV trắng đen.

Có rất nhiều bản nhạc nước ngoài mà cậu học sinh cấp 1 hồi ấy nghe đi nghe lại đến thuộc lòng phát âm của ca sĩ, biết bài này tiếng Anh, bài kia tiếng Pháp, bài khác tiếng Ý, nhưng không biết bài hát ấy tên là gì, nội dung bài hát nói về điều gì, ca sĩ ấy là ai…

Đầu thập niên 1990, một cuốn sách ra đời, Tuyển tập những bài hát tiếng Anh, thuộc chuyên mục “Tiếng Anh thực hành” do Nhà xuất bản TP.HCM phát hành, với dòng chú thích trên trang bìa “Có băng cassette”, đã trả lời cho thế hệ thanh niên chúng tôi hồi ấy tất cả những câu hỏi trên. Khi chưa học tiếng Anh, tôi đã nghe và thuộc nhiều bài hát của những ban nhạc Beatles, Scorpions, Queen… hay những ca sĩ Whitney Houston, Lionel Richie, Madonna, Phil Collins, Kim Wilde…

Giữa thập niên 1990, một số ban nhạc, ca sĩ quốc tế nổi tiếng bắt đầu đến Việt Nam biểu diễn: Boney M, Air Supply, Michael Learns To Rock, The Moffatts, Lobo, Bryan Adams, Sting… Phần lớn các bạn trẻ thời đó làm gì dám bỏ mấy trăm nghìn để đi xem đêm nhạc của các thần tượng. Nhiều buổi biểu diễn của họ ở Việt Nam lỗ nặng, mặc dù đều thành công về chất lượng chuyên môn và không khí khán giả. Một thời gian dài sau đó, các nghệ sĩ nổi tiếng thế giới chọn đến biểu diễn ở Việt Nam khá thưa thớt.

Đó là giai đoạn công nghệ biểu diễn ở nước ta chưa thật sự chuyên nghiệp, tài chính chưa sẵn sàng từ phía người xem. Các khái niệm công nghiệp văn hóa, nhà tài trợ chưa được nhìn nhận đúng vị trí, và internet cũng như các dịch vụ chia sẻ video chưa phổ biến như bây giờ.

Động lực mạnh mẽ của công nghiệp văn hóa Việt Nam - 1

Đông đảo khán giả tại một sự kiện âm nhạc diễn ra năm 2025 (Ảnh: Nguyễn Hà Nam).

Mặc dù khái niệm công nghiệp văn hóa đã xuất hiện từ thập niên 1940, sự phổ biến của khái niệm này cũng chỉ mới trở nên mạnh mẽ trong ba thập kỷ gần đây. Sự khác biệt so với những hiểu biết thông thường trước đó là việc thương mại hóa các nội dung sáng tạo, về bản chất mang tính phi vật thể và văn hóa, được thể hiện dưới hình thức sản phẩm hay dịch vụ nhằm mục đích kinh tế như đối với các ngành khác.

Trong những năm gần đây, công nghiệp văn hóa được nhìn nhận là nhóm ngành mới, có lợi thế quốc gia của Việt Nam, góp phần tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và quảng bá hình ảnh Việt Nam với thế giới.

Theo báo cáo của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), tổng sản phẩm dịch vụ sáng tạo (bao gồm phim ảnh, âm nhạc, thiết kế, trò chơi, quảng cáo) chiếm khoảng 3,1% giá trị GDP toàn cầu với doanh thu khoảng 2.300 tỷ USD, sử dụng gần 50 triệu lao động, được kỳ vọng sẽ chiếm tới 10% GDP toàn cầu vào năm 2030.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra, cứ 1 đồng tiền đầu tư vào các ngành công nghiệp sáng tạo, tổng sản lượng kinh tế sẽ tạo ra 2,5 đồng. Theo báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), các quốc gia Đông Nam Á và Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn cầu về hàng hóa sáng tạo.

Lấy Hàn Quốc làm ví dụ, ban nhạc BTS tạo doanh thu khoảng 3,5 tỷ USD trong 1 năm; dịch vụ truyền hình Netflix đầu tư 2,5 tỷ USD cho ngành công nghiệp nội dung tại Hàn Quốc trong 4 năm. Đây cũng là nơi đưa ra khái niệm “Văn hóa đi trước, kinh tế đi sau”. Đài truyền hình CNN gọi Hàn Quốc là “Hollywood của phương Đông”.

Tại Mỹ, thống kê của Chính phủ cho thấy ngành văn hóa và nghệ thuật tăng trưởng nhanh gấp đôi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; đóng góp của ngành này lớn hơn của các ngành truyền thống như nông nghiệp, vận tải hay xây dựng.

Nhiều nghệ sĩ quốc tế cũng được đánh giá có tác động tích cực đến nền kinh tế quốc gia trong các thời điểm nhất định. Ban nhạc The Beatles đã giúp “giải cứu” đồng bảng Anh vào thập niên 1960. Ca sĩ Taylor Swift với chương trình biểu diễn toàn cầu (Eras Tour) đã tạo nên cú hích tiêu dùng cho nhiều nền kinh tế; trong đó, theo Bloomberg, riêng ở Mỹ cô đã tạo nên cú hích tiêu dùng 4,3 tỷ USD.

Chính phủ Singapore quyết định tài trợ 3 đêm diễn độc quyền của ca sĩ này (tháng 3/2024) với khoản ngân sách 12–18 triệu USD, mang lại khoản thu tăng thêm cho nền kinh tế ước tính thời điểm đó khoảng 500 triệu USD.

Công nghiệp văn hóa Việt Nam được đánh giá đóng góp khoảng 6% GDP trước đại dịch Covid, và khoảng 4% GDP trong những năm gần đây. Đây cũng là nhóm ngành tạo ra nguồn nhân lực sáng tạo với kỳ vọng tăng trưởng dự kiến 10%/năm, ứng dụng sâu rộng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật, chuỗi khối và dữ liệu lớn. Trong đó, kinh tế tư nhân đã và đang nổi lên như một lực lượng tích cực, mạnh mẽ và nhiều tiềm năng cả về số lượng và chất lượng sản phẩm văn hóa. Đây là điều khác với giai đoạn trước đây khi văn hóa chủ yếu được phát triển dưới sự đầu tư của khu vực công.

Càng ngày, công chúng càng cảm nhận được năng lượng và sự linh hoạt, hiện đại của khu vực tư nhân trong việc đầu tư nghiêm túc vào chất lượng sản phẩm, phát triển sản phẩm đa dạng và gần gũi với nhu cầu của thị trường trong tất cả lĩnh vực của các ngành công nghiệp văn hóa: điện ảnh, âm nhạc, truyền hình, trò chơi điện tử, thiết kế, nội dung số…

Các đại diện của khu vực tư nhân phần nhiều là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, nhưng với tâm huyết và nỗ lực mạnh mẽ cùng sự hỗ trợ của các công nghệ thời đại số, họ đang góp phần tạo nên một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc nhưng cực kỳ hiện đại, cực kỳ trẻ trung, kết hợp hài hòa các giá trị truyền thống với sự đổi mới sáng tạo và học hỏi không ngừng.

Những bộ phim Tết gần gũi với cuộc sống, các clip âm nhạc Việt Nam đạt hàng trăm triệu đến hơn một tỷ lượt xem, những gameshow đa dạng phong phú, sự kết hợp của các nghệ sĩ truyền thống và nghệ sĩ trẻ cách nhau nhiều thế hệ, nhiều tác phẩm làm mới văn hóa dân gian như quan họ truyền thống kết hợp nhạc hip-hop nhằm thể hiện niềm tự hào quê hương…

Đấy là chưa nói đến hơn 5.000 làng nghề truyền thống, hơn 8.000 lễ hội dân gian, hàng trăm điệu múa cổ, tiềm năng du lịch của các ngôi làng cổ được thế giới đánh giá cao; các lễ hội và di sản được làm mới trong bối cảnh phổ biến của các thiết bị điện tử tiêu thụ nội dung.

Nhìn lại những dấu ấn nổi bật của các sản phẩm văn hóa Việt Nam những năm gần đây, có lẽ không nhiều người biết chúng ta có những sản phẩm du lịch di sản mất khoảng 4 năm nung nấu để xây dựng, từng công chiếu tại Quảng trường Thời đại, New York (Mỹ) từ năm 2019 và vẫn đang tiếp tục được trình diễn trong nước với hàng trăm nghệ sĩ tham gia hàng tuần; chúng ta có chương trình biểu diễn đặc biệt kết hợp, cách tân nhiều loại hình nghệ thuật rối nước, rối hoạt hình, rối dây và múa đương đại trên nền khí nhạc dân tộc bản địa; chúng ta có những khách sạn, khu nghỉ dưỡng được trao giải thưởng đẹp nhất, tốt nhất thế giới; chúng ta có nhiều nghệ sĩ trẻ tài năng, lao động nghệ thuật nghiêm túc, đã tổ chức những buổi biểu diễn tại những thánh đường nghệ thuật uy tín như Nhà hát Esplanade ở Singapore, Nhà hát Con Sò Sydney Opera House ở Úc, Nhà hát Dolby Theatre (nơi trao giải Oscar hằng năm) ở Mỹ với toàn bộ nhân sự tham gia tổ chức là người Việt.

Ở đó đã vang lên những giai điệu về lòng yêu nước, về tình cảm gia đình, không chỉ về tình yêu đôi lứa, thấm đượm khát khao của người nghệ sĩ muốn được mang một trải nghiệm văn hóa trọn vẹn – chứ không chỉ là âm nhạc của Việt Nam – đến với quốc tế.

Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, theo đó xác định 10 ngành công nghiệp văn hóa chủ chốt được ưu tiên phát triển, bao gồm: Điện ảnh; Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; Nghệ thuật biểu diễn; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Quảng cáo; Thủ công mỹ nghệ; Du lịch văn hóa; Thiết kế sáng tạo; Truyền hình và phát thanh; Xuất bản.

Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết khẳng định mục tiêu đưa đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa đạt 7% GDP vào năm 2030, đạt 9% GDP vào năm 2045. Việt Nam phấn đấu nằm trong Top 3 ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm văn hóa.

Thế giới đã mang công nghiệp văn hóa của họ đến Việt Nam, và với các khuôn khổ thể chế nêu trên, tôi tin rằng chúng ta đã, đang và sẽ tiếp tục mang công nghiệp văn hóa của mình với rất nhiều điều thú vị, hấp dẫn của một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đến với thế giới.

Tác giả: Ông Nguyễn Hoa Cương là Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương.

Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!