Thẩm quyền giám sát của đại biểu Quốc hội
(Dân trí) - Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 quy định đại biểu Quốc hội có thẩm quyền giám sát 5 nhóm nội dung. Luật này có hiệu lực từ ngày 1/3/2026.

Đại biểu Quốc hội chất vấn tại các kỳ họp của Quốc hội (Ảnh minh họa: QH).
Thẩm quyền và hoạt động giám sát của ĐBQH được quy định tại Điều 5 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025. Theo đó, ĐBQH có thẩm quyền và thực hiện các hoạt động giám sát với 5 nội dung sau.
Thứ nhất là chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước.
Thứ hai là giám sát văn bản quy phạm pháp luật.
Thứ ba là giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương, nơi ĐBQH là thành viên của Đoàn ĐBQH.
Thứ tư là giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Thứ năm là tham gia hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH mà ĐBQH là thành viên; tham gia hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh khi có yêu cầu, đề nghị.
Luật cũng quy định ĐBQH quyết định và tổ chức thực hiện chương trình giám sát hằng năm của mình (nếu có); trường hợp cần thiết do yêu cầu của thực tiễn, quyết định điều chỉnh chương trình giám sát. ĐBQH có trách nhiệm thông báo đến Đoàn ĐBQH về chương trình giám sát của mình (nếu có). Đoàn ĐBQH có trách nhiệm tổ chức để ĐBQH trong đoàn thực hiện giám sát tại địa phương.
ĐBQH còn có thẩm quyền xem xét kết quả giám sát. Thẩm quyền này được quy định tại Điều 26 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025.
Cao nhất, ĐBQH có thẩm quyền kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Kế đến, ĐBQH có thẩm quyền kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

Các ứng viên đại biểu Quốc Hội khoá XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân TPHCM tiếp xúc cử tri ở phường Phước Long (Ảnh: U.P)
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhận được kiến nghị trên phải có trách nhiệm xem xét và trả lời trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị.
ĐBQH cũng có thẩm quyền kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Ngoài ra, ĐBQH còn có thẩm quyền kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhận được kiến nghị có trách nhiệm xem xét và trả lời trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị; trường hợp bất khả kháng hoặc có nhiều nội dung phức tạp thì thời hạn có thể dài hơn nhưng không quá 30 ngày.
Quá thời hạn trên mà ĐBQH không nhận được trả lời, hoặc ĐBQH không tán thành với nội dung trả lời thì có quyền kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, giải quyết, đồng thời báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Cuối cùng, ĐBQH có thẩm quyền kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn theo quy định của Quốc hội về bỏ phiếu tín nhiệm.














