Làm thêm, trực Tết được trả lương thế nào?
(Dân trí) - Làm việc dịp Tết, người lao động được trả lương cao nhất trong năm, song số giờ làm thêm vẫn bị khống chế theo ngày, tháng và năm, kèm điều kiện chặt chẽ về nghỉ ngơi, sức khỏe.
Lương làm ngày Tết được trả cao nhất năm
Theo Bộ luật Lao động 2019, Tết Âm lịch là một trong các ngày nghỉ lễ, tết mà người lao động được nghỉ và hưởng nguyên lương. Trong trường hợp người lao động làm việc vào ngày nghỉ lễ, tết, tiền lương làm thêm giờ được trả ít nhất bằng 300% so với tiền lương của công việc đang làm, chưa kể tiền lương của ngày lễ, tết đối với người hưởng lương ngày.
Trên thực tế, nếu người lao động làm việc đúng vào ngày Tết Âm lịch - vốn là ngày nghỉ hưởng lương - thì tổng thu nhập thường bao gồm tiền lương của ngày nghỉ lễ cộng với tiền lương làm thêm giờ.
Tùy cách trả lương theo ngày, giờ hoặc tháng của doanh nghiệp, tổng mức hưởng có thể đạt ít nhất bốn lần tiền lương ngày làm việc bình thường.
Quy định này được áp dụng chung cho người lao động làm việc theo hợp đồng lao động tại doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và các đơn vị sử dụng lao động khác.

Đi làm dịp Tết, người lao động nhận được mức trả thù lao cao nhất trong năm (Ảnh minh hoạ: Sơn Nguyễn).
Làm ban đêm, làm thêm vào ban đêm dịp Tết
Bộ luật Lao động cũng quy định riêng đối với trường hợp làm việc vào ban đêm. Người lao động làm việc trong khung giờ ban đêm được trả thêm ít nhất 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả của công việc làm vào ban ngày.
Trường hợp vừa làm thêm giờ vừa làm vào ban đêm, người lao động ngoài tiền lương làm thêm theo từng loại ngày (ngày thường, ngày nghỉ hằng tuần hoặc ngày lễ, tết) và tiền lương làm ban đêm còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương của công việc làm vào ban ngày.
Do cộng gộp nhiều khoản chi trả, người lao động làm thêm vào ban đêm trong các ngày Tết thường có mức thu nhập cao hơn đáng kể so với ngày làm việc thông thường.
Cách xác định tiền lương làm căn cứ trả làm thêm
Nghị định 145/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết cách xác định tiền lương giờ thực trả làm căn cứ tính tiền lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm. Theo đó, tiền lương này được xác định trên cơ sở mức lương theo công việc hoặc chức danh ghi trong hợp đồng lao động, cộng với các khoản phụ cấp lương gắn với công việc, chức danh.
Các khoản tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ hoặc các khoản hỗ trợ khác không gắn với việc thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động thường không được tính vào tiền lương làm căn cứ trả làm thêm giờ.
Lịch làm Tết trùng ngày nghỉ hằng tuần, nghỉ bù
Trong trường hợp ngày nghỉ lễ, tết trùng với ngày nghỉ hằng tuần, người lao động được nghỉ bù vào ngày làm việc kế tiếp. Nếu người lao động làm thêm vào đúng ngày lễ, tết trùng với ngày nghỉ hằng tuần thì tiền lương làm thêm được trả theo mức của ngày lễ, tết.
Ngược lại, nếu làm thêm vào ngày nghỉ bù do lễ, tết trùng ngày nghỉ hằng tuần, tiền lương làm thêm được trả theo mức của ngày nghỉ hằng tuần. Việc phân biệt rõ ngày làm thêm là ngày lễ hay ngày nghỉ bù có ý nghĩa quan trọng trong xác định mức chi trả.

Trường hợp làm thêm vào ngày nghỉ hằng tuần trùng với ngày lễ, tết, mức trả được xác định theo chế độ của ngày lễ, tết (Ảnh: Dony).
Giới hạn làm thêm giờ và điều kiện huy động
Theo Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động chỉ được huy động làm thêm giờ khi có sự đồng ý của người lao động, trừ các trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, phòng chống thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh hoặc xử lý sự cố đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản.
Pháp luật quy định giới hạn cụ thể về thời gian làm thêm, kể cả trong dịp lễ, tết. Số giờ làm thêm không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong một ngày; với chế độ làm việc 8 giờ/ngày, tổng thời gian làm việc trong ngày không vượt quá 12 giờ. Tổng số giờ làm thêm không quá 40 giờ trong một tháng và không quá 200 giờ trong một năm, trừ một số ngành, nghề, lĩnh vực được phép tổ chức làm thêm đến 300 giờ/năm.
Danh mục được làm thêm đến 300 giờ/năm bao gồm sản xuất, gia công xuất khẩu; dệt may, da giày; chế biến nông, lâm, thủy sản; sản xuất, cung ứng điện, viễn thông; cấp, thoát nước và một số công việc mang tính thời vụ hoặc phải giải quyết gấp theo đơn hàng. Khi tổ chức làm thêm trên 200 giờ/năm, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan quản lý lao động cấp tỉnh.
Bên cạnh đó, người lao động phải được bảo đảm thời giờ nghỉ ngơi, gồm nghỉ ít nhất 12 giờ giữa hai ca làm việc và ít nhất 24 giờ liên tục mỗi tuần, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định.
Xử phạt khi trả không đúng tiền làm thêm dịp Tết
Nghị định 12/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động nêu rõ, người sử dụng lao động trả không đủ tiền lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm, làm việc vào ngày lễ, tết có thể bị xử phạt hành chính, đồng thời buộc trả đủ phần tiền lương còn thiếu cho người lao động.
Các quy định nêu trên là căn cứ pháp lý chính để xác định quyền lợi về tiền lương, thù lao khi người lao động, cán bộ, công chức, viên chức làm thêm hoặc trực trong dịp Tết theo pháp luật hiện hành.











