Đầu năm đi lễ, đừng tìm mọi cách vào "cung cấm" ở các đền chùa

(Dân trí) - Khi thần linh bị đối cử như một cửa "ưu tiên" tâm linh đã bị hạ cấp thành giao dịch. Giải thiêng bằng hiểu biết là tiến bộ, giải thiêng bằng suồng sã là phá hoại.

Người Việt từng sống trong một nền văn hóa rất rạch ròi về ranh giới: cái gì được phép, cái gì không. Bởi vậy, cái tên "cung cấm" đã tự thân mang ý nghĩa rõ ràng: đã là cấm thì không được bước vào.

"Cung cấm" tồn tại để nhắc nhở mọi người rằng không phải mọi khoảng cách đều cần bị xóa bỏ, không phải nơi nào cũng có thể đặt chân tới chỉ vì ta muốn.

Đó không phải điểm check-in (hành động xác nhận sự có mặt - PV), cũng không phải nơi để chứng minh "tôi có đặc quyền". "Cung cấm" là phần lõi bất khả xâm phạm của một không gian thiêng. Việc dựng cửa, khóa lại và chỉ để một bộ phận nhất định ra vào không phải sự phân biệt sang hèn, mà là nguyên tắc gìn giữ.

Đầu năm đi lễ, đừng tìm mọi cách vào cung cấm ở các đền chùa - 1

"Cung cấm" ở đình Chèm, phường Đông Ngạc, TP Hà Nội (Ảnh: Toàn Vũ).

Những người được phép vào thường là thủ từ, người trông coi nhang đèn, phụ trách lễ nghi, pháp sư… những người có trách nhiệm với nghi lễ và sự linh thiêng. Đó không phải đặc quyền dành cho quan chức hay bất kỳ ai tự cho mình là "VIP".

Nhưng ngày nay, hỡi ôi!

Người ta livestream (quay trực tiếp - PV), check-in, khoe mình sang xịn khi được vào "cung cấm". Người ta bật đèn flash chụp ảnh, nhét tiền lẻ vào chân tượng, sờ đến nhẵn mòn bàn chân, đầu gối tượng. Người ta chen chúc thô bạo thậm chí quát tháo nhau trong "cung cấm".

Nhiều người nghĩ rằng thay vì đảnh lễ (nghi thức cúi lạy - PV) từ xa, cứ phải tiến sát lại gần mới "linh"; trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một sờ. Từ đó, dân ta nảy sinh tâm lý càng gần càng có lợi, gần thì được các "ngài" để ý, thương xót và phù trì hơn. Đó là một cách nghĩ ấu trĩ, nhuốm màu mê tín.

Đó là tư duy thực dụng vật chất mà ta máy móc gán cho thế giới tâm linh "trần sao âm vậy", len lỏi vào cả nơi thờ tự. Người ta chen vào "cung cấm" như chen vào phòng lãnh đạo, nghĩ rằng đứng sát ban thờ hơn người khác thì lời khấn sẽ được ưu tiên giải quyết.

Thế nhưng, đó không phải là mộ đạo mà là sự xúc phạm.

Sự linh thiêng tồn tại nhờ khoảng cách, nhờ những giới hạn được tôn trọng, nhờ ý thức rằng có những nơi con người cần dừng lại. Ngay cả bàn thờ trong mỗi gia đình còn phải để ở nơi không gian yểu yểu minh minh, ánh sáng mờ dịu, tránh ánh sáng trực tiếp, bởi ánh sáng là dương sẽ xé toang phần âm linh nghi.

Khi "cung cấm" - nơi vốn có chữ "CẤM" to tướng - lại trở thành chỗ ra vào tùy tiện, thì không chỉ không gian thiêng bị xâm phạm, mà chính hình tượng thần linh cũng bị tầm thường hóa.

Một không gian thiêng khi bị lột trần đến tận cùng sẽ chết dần, chết mòn. Cái gì mập mờ mới hấp dẫn, huyền bí, và thu hút (ít nhất về mặt cảm quan thông thường chứ chưa nói đến phần âm không nhìn thấy).

Giống như một con người nếu bị phơi bày toàn bộ nội tâm trước đám đông, họ sẽ đánh mất nhiều giá trị, không còn chiều sâu, không còn bí mật và sức nặng của mình.

Mỗi người thử ngẫm mà xem. Nếu sự suồng sã ấy tiếp tục, chúng ta không phải đang hiện đại hóa đời sống tâm linh, mà đang tự tay bào mòn và triệt tiêu những giá trị vốn cần được gìn giữ.

Đối với các đền, chùa, miếu, phủ, những người trực tiếp quản lý, các cơ quan quản lý văn hóa cần mạnh tay hơn với tình trạng này. Đã là "cung cấm" phải thực sự kiểm soát bằng những biện pháp cụ thể. Ổ khóa sinh ra để khóa thì phải sử dụng, chỉ mở trong những dịp đặc biệt, chứ không phải phụ thuộc vào "khách VIP", người quen hay những trường hợp ngoại lệ.

Coi trời bằng vung, tùy tiện xâm nhập nơi linh thiêng như vậy thì khi xảy ra điều bất trắc, đừng hỏi vì sao bị trách phạt.

Trần Thị Kim Hoa - Chuyên gia tâm linh