(Dân trí) - Nhiệm kỳ mới, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết nguồn lực Trung ương sẽ tập trung cho các công trình hạ tầng chiến lược. Cơ chế huy động và sử dụng nguồn lực xã hội cũng được đổi mới mạnh mẽ.
Nhiệm vụ phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân xác định là “mạch máu” của nền kinh tế, là cầu nối mở ra không gian phát triển mới. Hạ tầng giao thông đã có sự phát triển vượt bậc trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, với những bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy và hành động, tạo nhiều kết quả đột phá.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định một trong ba đột phá chiến lược là hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong đó có kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức.

Chia sẻ thêm với phóng viên Dân trí về những dấu ấn đặc biệt của việc phát triển hạ tầng giao thông, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh khẳng định hệ thống kết cấu hạ tầng thời gian qua đã có những phát triển vượt bậc, nhiều công trình hạ tầng quy mô lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển vùng và kết nối liên vùng được hoàn thành sớm hơn 6 tháng đến 1 năm so với tiến độ đề ra.
Tư lệnh ngành Xây dựng cũng nhắc đến nhiều kết quả quan trọng về hạ tầng giao thông trên các lĩnh vực: đường bộ, đường không, hàng hải, đường thủy nội địa, đường sắt, nhà ở đô thị…, với những dự án lớn và quan trọng như: Cảng Hàng không quốc tế Long Thành, nhà ga T3 Cảng hàng không Tân Sơn Nhất, nhà ga T2 Cảng hàng không quốc tế Nội Bài; cảng biển Lạch Huyện - Hải Phòng, Cái Mép - Thị Vải; đường sắt đô thị Bến Thành - Suối Tiên…

“Những kết quả này tạo chuyển biến rõ nét về diện mạo hạ tầng quốc gia, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025”, theo lời Bộ trưởng.
Nhìn lại chặng đường đã qua, riêng trong lĩnh vực đường bộ cao tốc, tính đến năm 2020, cả nước có 1.163km. Như vậy, để hoàn thành mục tiêu 3.000km vào năm 2025, 1.837km cần phải hoàn thiện - một thách thức rất lớn, trong khi điểm nghẽn về thể chế, giải phóng mặt bằng hay vật liệu vẫn là rào cản.
Nhưng để tháo gỡ những vướng mắc, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều các cơ chế đặc thù cho các công việc, từ bước lập dự toán, dự án, giải phóng mặt bằng, đến triển khai thi công. Thủ tướng Chính phủ cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm và thành lập 7 Đoàn công tác do các Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng đoàn, các thành viên gồm Bộ Xây dựng và các bộ, ngành liên quan trực tiếp kiểm tra hiện trường.
Lãnh đạo Chính phủ đồng thời phát động phong trào “500 ngày đêm thi đua hoàn thành 3.000km đường bộ cao tốc”, ngoài ra các địa phương cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo để tập trung chỉ đạo tháo gỡ các vướng mắc, đặc biệt là trong công tác giải phóng mặt bằng, nguồn vật liệu xây dựng.
Theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh, nhờ sự quan tâm, quyết liệt chỉ đạo đó, hầu hết vướng mắc dần được tháo gỡ, tạo tiền đề quan trọng để các chủ đầu tư, nhà thầu quyết tâm, nỗ lực triển khai thi công.
Sau 5 năm của nhiệm kỳ (2021-2025), cả nước đã hoàn thành, thông xe thêm 2.182km đường cao tốc. Đến hết năm 2025, cả nước đã hoàn thành 3.345km tuyến chính cao tốc, 458km nút giao và đường dẫn, vượt mục tiêu đạt 3.000km cao tốc trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 của Quốc hội, Chính phủ giao.
Ngoài ra, cả nước cũng hoàn thành 1.586km đường quốc lộ; 1.701km đường bộ ven biển.
Tính cả giai đoạn 2021-2025, Bộ trưởng Bộ Xây dựng cho biết cả nước đã hoàn thành, thông xe 2.025km đường cao tốc, gấp gần 2 lần số km có được trong 20 năm trước nhiệm kỳ.
Đặc biệt, Bộ trưởng nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của việc hoàn thành thông xe toàn tuyến cao tốc Bắc - Nam từ Cao Bằng đến Mũi Cà Mau, tiếp tục tiếp tục triển khai cao tốc Cà Mau - Cái Nước, các cao tốc trục ngang như Tân Phú - Bảo Lộc, cao tốc Quy Nhơn - Pleiku…
Cùng với đó, năng lực hệ thống cảng biển tăng gần 1,3 lần; công suất hệ thống cảng hàng không tăng hơn 1,6 lần so với năm 2020.
“Những kết quả này đã góp phần quan trọng kéo giảm chi phí logistics từ mức 21% GDP năm 2018 xuống còn khoảng 17-18% như hiện nay, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế”, Bộ trưởng Trần Hồng Minh thông tin.

Một dấu mốc đặc biệt trong năm 2025 được Bộ trưởng Bộ Xây dựng đề cập là lần đầu tiên cả nước tổ chức đồng loạt 3 đợt khởi công, khánh thành với hơn 560 công trình, dự án, tổng mức đầu tư trên 5 triệu tỷ đồng.
Đáng chú ý, gần 75% tổng số vốn đầu tư cho những công trình ấy đến từ khu vực tư nhân. Điều này, theo Bộ trưởng, là minh chứng cho niềm tin của doanh nghiệp vào môi trường đầu tư và vai trò dẫn dắt của Nhà nước.
Dù vậy, Bộ trưởng Trần Hồng Minh thẳng thắn nhìn nhận về phát triển kết cấu hạ tầng vẫn còn những hạn chế, bất cập. Đó là tính đồng bộ và liên kết vùng chưa cao; quy hoạch hạ tầng chưa thực sự đi trước một bước; nhiều đô thị lớn còn ùn tắc, quá tải hạ tầng; nguồn lực đầu tư còn phân tán; chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong quản lý và phát triển hạ tầng còn chậm so với yêu cầu mới…
Theo Bộ trưởng, phát triển kết cấu hạ tầng trong kỷ nguyên mới không thể chỉ dừng lại ở “bê tông hóa”, mà phải chuyển mạnh sang “thông minh hóa” và “xanh hóa”, lấy hiệu quả tổng thể, phát triển bền vững và nâng cao chất lượng sống của người dân làm mục tiêu xuyên suốt.
Với định hướng ấy, Bộ Xây dựng xác định trọng tâm xuyên suốt là phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng quốc gia đồng bộ, hiện đại, thông minh, xanh; tập trung nguồn lực Trung ương cho các công trình hạ tầng chiến lược, dự án trọng điểm quốc gia; đồng thời đổi mới mạnh mẽ cơ chế huy động và sử dụng nguồn lực xã hội.
“Bộ Xây dựng sẽ ưu tiên các nhóm dự án hạ tầng có tính chất chiến lược, lan tỏa và liên vùng, tập trung hình thành bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia đồng bộ, hiện đại”, Bộ trưởng Trần Hồng Minh nói.

Ông nhấn mạnh trọng tâm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống đường bộ cao tốc Bắc - Nam, các trục giao thông quan trọng có vai trò kết nối quốc gia; đồng thời phối hợp, hướng dẫn và hỗ trợ các địa phương trong việc đầu tư các tuyến kết nối vùng, đường vành đai đô thị lớn theo quy hoạch được phê duyệt.
Cùng với việc đề xuất các chính sách đa dạng hóa, huy động hiệu quả các nguồn lực đầu tư, Bộ cũng sẽ tập trung hoàn thiện thể chế chính sách pháp luật; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học - công nghệ nâng cao chất lượng quản lý dự án và quản lý chất lượng công trình, kiên quyết không vì áp lực tiến độ mà đánh đổi chất lượng, an toàn và hiệu quả lâu dài của công trình.

Tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam là một trong những dự án hạ tầng giao thông đặc biệt quan trọng sẽ được tập trung triển khai trong giai đoạn tới. Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhận định dự án này mang ý nghĩa chiến lược không chỉ về phát triển giao thông, rút ngắn khoảng cách địa lý, mà còn mở rộng không gian phát triển quốc gia, tác động tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Ông phân tích năng lực vận tải Bắc - Nam đã tới giới hạn khi cả đường bộ và hàng không đều quá tải. Chi phí logistics cao hơn 1,3-1,5 lần trung bình khu vực, trong khi vận tải đường sắt chỉ chiếm dưới 2% thị phần, hạ tầng và công nghệ đều lạc hậu.
Vì thế, tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam độ dài 1.541km với tốc độ thiết kế 350km/h, được kỳ vọng sẽ giải quyết những bất cập trên.
Khi dự án hoàn thành, thời gian di chuyển Hà Nội - TPHCM sẽ chỉ còn 5-6 giờ, thay vì hơn 30 giờ như hiện nay.

Về kinh tế, Tư lệnh ngành Xây dựng cho biết tuyến đường giúp giảm chi phí logistics 15-20%, tiết kiệm 2-2,5 tỷ USD/năm, giảm phát thải 3 triệu tấn CO₂/năm, tăng GDP khoảng 0,5-0,7% mỗi năm.
Về xã hội, dự án sẽ giảm tai nạn giao thông, nâng cao chất lượng sống và mở cơ hội phát triển cho các vùng còn khó khăn. Lợi ích kinh tế - xã hội dự kiến có thể đạt 100 tỷ USD sau 30 năm khai thác, theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh.
Đặc biệt, tuyến đường sẽ hình thành hành lang phát triển mới các đô thị mới dọc trục Bắc - Nam, kết nối các trung tâm kinh tế. Dòng vốn, lao động, tri thức, dịch vụ sẽ lan tỏa đều thay vì tập trung vào hai cực.
Để chuẩn bị cho việc triển khai dự án, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết Bộ Xây dựng phối hợp với các địa phương đã xây dựng quy hoạch tái định cư bền vững, hạ tầng đồng bộ, có trường học, trạm y tế, chợ, việc làm thay thế.
Về kỹ thuật, Bộ Xây dựng đang rà soát và ban hành đồng bộ hệ thống quy chuẩn - tiêu chuẩn quốc gia cho cầu, hầm, nhà ga, đường ray, điện - tín hiệu, phòng cháy chữa cháy, an toàn vận hành… áp dụng theo thông lệ quốc tế.

“Chúng tôi sẽ đặt tuyến trong tổng thể quy hoạch mạng lưới đường sắt quốc gia, bảo đảm đồng bộ với các tuyến đô thị, và quản lý chất lượng bằng mô hình FIDIC để kiểm soát rủi ro suốt vòng đời dự án”, Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhấn mạnh.
Song song với đó, Bộ Xây dựng cũng xúc tiến Trung tâm Đào tạo đường sắt tốc độ cao quốc gia, hợp tác với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức để đào tạo kỹ sư, công nhân và chuyên gia. Bộ trưởng nhấn mạnh mục tiêu 10 năm tới, Việt Nam tự bảo trì, tự sản xuất linh kiện cơ bản, làm chủ công nghệ cốt lõi thay vì phụ thuộc nhập khẩu.

Trong Báo cáo Chính trị Đại hội lần thứ XIV của Đảng, một trong những nội dung được đề cập trong mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu 5 năm 2026-2030 là việc mở rộng các loại hình nhà ở, ưu tiên phát triển nhà ở xã hội.
Đây cũng là nhiệm vụ đã được tập trung triển khai thời gian qua và đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận.
Năm 2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 201 về thí điểm cơ chế đặc thù phát triển nhà ở xã hội, kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tạo hành lang pháp lý thông thoáng hơn, có cơ chế ưu đãi thiết thực, giảm bớt thủ tục hành chính, qua đó thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xã hội.
Chính phủ, Thủ tướng và các bộ, ngành, địa phương cũng chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong phát triển nhà ở xã hội, thúc đẩy triển khai Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội giai đoạn 2021-2030”.

Trong năm 2025, cả nước hoàn thành 102.633 căn nhà ở xã hội, đạt 102% kế hoạch. Lũy kế đến hết năm 2025, cả nước có 698 dự án với quy mô 657.395 căn, đạt 62% chỉ tiêu Đề án. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng, ngành Xây dựng phấn đấu hoàn thành mục tiêu có 1 triệu căn nhà ở xã hội sớm 2 năm so với mục tiêu và có trên 1,6 triệu căn vào năm 2030.
Ngoài ra, chương trình hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng cũng đã hoàn thành trước ngày 27/7/2025 với 34.754 hộ, vượt kế hoạch 4 tháng; Chương trình hỗ trợ nhà ở hộ nghèo cũng đã hoàn thành vượt kế hoạch 4 tháng với tổng số 85.897 hộ…

Nhấn mạnh việc chăm lo giải quyết nhà ở cho người dân luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Bộ trưởng Xây dựng cho biết Bộ sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật về nhà ở và bất động sản theo hướng đồng bộ, thống nhất, khả thi; khẩn trương thành lập và đưa vào vận hành Quỹ nhà ở quốc gia để tiếp nhận vốn, đầu tư, tạo lập và quản lý vận hành nhà ở cho thuê.
Cùng với đó, Bộ sẽ nghiên cứu Trung tâm giao dịch bất động sản do Nhà nước quản lý; yêu cầu các địa phương chủ động bố trí ngân sách bồi thường, giải phóng mặt bằng để có quỹ đất sạch tại các vị trí thuận lợi, đầy đủ hạ tầng kỹ thuật cho các dự án nhà ở xã hội, quyết tâm hoàn thành sớm mục tiêu Đề án, bảo đảm mỗi người dân đều có cơ hội an cư thực sự.








