Chiến thuật của ông Trump khi mở cuộc chiến kinh tế chưa từng có với Iran

(Dân trí) - Tổng thống Mỹ Donald Trump dường như đặt ra nhiều mục tiêu, không chỉ nhắm tới Iran, khi tuyên bố mở chiến dịch trừng phạt kinh tế với quốc gia Trung Đông.

Chiến thuật của ông Trump khi mở cuộc chiến kinh tế chưa từng có với Iran - 1

Tổng thống Mỹ Donald Trump (Ảnh: Reuters).

Ngày 19/8, Tổng thống Mỹ Donald Trump bất ngờ nâng cuộc đối đầu với Iran lên một nấc mới khi tuyên bố tiến hành chiến dịch chiến tranh kinh tế và cô lập ở quy mô chưa từng có, đồng thời cảnh báo các quốc gia để ngân hàng, doanh nghiệp, sân bay hay cơ quan nhà nước tạo “đường sống” cho Tehran sẽ phải chịu hậu quả kinh tế nghiêm trọng.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý hơn lời lẽ cứng rắn là Mỹ chưa công bố một gói biện pháp hoàn chỉnh đi kèm. Hãng tin Reuters ngày 20/8 lưu ý ông Trump không nêu tên quốc gia cụ thể và cũng chưa giải thích chính xác những chế tài mới sẽ được áp dụng như thế nào.

Vì vậy, tuyên bố mới không nên chỉ được nhìn nhận như đợt bổ sung trừng phạt thông thường. Nó phản ánh sự điều chỉnh chiến thuật của Mỹ sau gần 6 tháng xung đột mà sức mạnh quân sự chưa tạo được kết quả chính trị tương xứng, hai thỏa thuận ngừng bắn lần lượt tan vỡ, eo biển Hormuz tiếp tục bị gián đoạn và sức ép của giá năng lượng bắt đầu quay trở lại chính nền kinh tế Mỹ.

Theo giới chuyên gia, đằng sau cụm từ “chưa từng có” là một bài toán vô cùng phức tạp: Mỹ muốn làm Iran suy kiệt hơn nhưng không được khiến nguồn cung dầu thế giới suy kiệt theo; muốn buộc Tehran trở lại bàn đàm phán nhưng phải tránh tạo cho Iran cảm giác rằng Hormuz chính là quân bài càng giữ lâu càng có giá.

Khi sức mạnh quân sự không tạo ra lối thoát chính trị

Nguyên nhân trực tiếp đầu tiên của sự chuyển hướng sang chiến tranh kinh tế là chiến dịch quân sự đã tiến đến giới hạn của khả năng tạo sức ép mà Mỹ sẵn sàng chấp nhận. Xung đột hiện nay bắt đầu từ các đợt tấn công phối hợp của Mỹ - Israel nhằm vào Iran cuối tháng 2.

6 tháng sau, Tehran chịu thiệt hại lớn, năng lực quân sự và xuất khẩu năng lượng suy giảm, nhưng mục tiêu quan trọng nhất của Mỹ là chuyển ưu thế quân sự thành một thỏa thuận bền vững về hạt nhân và an ninh hàng hải vẫn chưa đạt được. Hãng tin Reuters nhận định cục diện đã chuyển thành thế giằng co: Iran tiếp tục gây sức ép đối với hoạt động hàng hải ở Hormuz, trong khi Mỹ duy trì phong tỏa các cảng Iran và để ngỏ khả năng nối lại không kích.

Tháng 6 từng xuất hiện một cánh cửa ngoại giao. Bản ghi nhớ Mỹ - Iran ngày 17/6 dành 60 ngày để hướng tới thỏa thuận rộng hơn, gắn vấn đề hạt nhân, trừng phạt và khôi phục tự do hàng hải. Nhưng thời hạn đã kết thúc ngày 17/8 mà không đem lại bước đột phá. Iran cho rằng Mỹ phải chấm dứt phong tỏa cảng, nới trừng phạt dầu mỏ, giải phóng tài sản bị đóng băng và ngừng các hoạt động quân sự trước khi Hormuz được mở hoàn toàn. Báo RBC của Nga ngày 8/8 còn liệt kê 6 yêu cầu của Tehran, trong đó có bồi thường thiệt hại chiến tranh và dỡ bỏ trừng phạt.

Ở chiều ngược lại, Nhà Trắng muốn một thỏa thuận chặt chẽ hơn về chương trình hạt nhân Iran, đặc biệt quan tâm đến lượng uranium làm giàu cao mà Mỹ cho rằng vẫn chưa được xử lý sau các cuộc tấn công. Reuters cho biết chính quyền Tổng thống Trump muốn một khuôn khổ hạn chế hơn nữa đối với chương trình hạt nhân và nghiên cứu của Iran so với thỏa thuận năm 2015, trong khi Tehran tiếp tục khẳng định chương trình của họ phục vụ mục đích hòa bình.

Trong bối cảnh ấy, kinh tế trở thành công cụ thay thế phù hợp hơn cho một vòng không kích mới. Đây thực chất cũng không phải chiến dịch bắt đầu từ con số không. Từ ngày 16/4, Bộ Tài chính Mỹ đã triển khai chương trình “Economic Fury” (Cơn thịnh nộ kinh tế), sử dụng Văn phòng Kiểm soát tài sản nước ngoài (OFAC) để đánh vào vận chuyển dầu, hệ thống ngân hàng ngầm, các công ty bình phong, mạng lưới mua sắm quân sự và nguồn ngoại tệ của Iran.

Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent từng mô tả sức ép tài chính là “tương đương về tài chính” với một chiến dịch ném bom. Từ tháng 4 đến tháng 6, Bộ Tài chính Mỹ liên tục trừng phạt mạng lưới tàu dầu, công ty trung gian, cơ sở đổi ngoại tệ và những thực thể tại Trung Quốc, Hong Kong, Thổ Nhĩ Kỳ, UAE liên quan Iran.

Tuyên bố ngày 19/8 của ông Trump vì thế có thể hiểu là mở rộng chương trình “Economic Fury” từ đánh các mắt xích cụ thể sang đe dọa cả hệ sinh thái bên ngoài đang giúp Iran duy trì hoạt động kinh tế. Nhà Trắng muốn biến quan hệ kinh tế với Tehran thành một lựa chọn có chi phí cao; ngân hàng phải cân nhắc tiếp cận hệ thống tài chính Mỹ; hãng tàu phải tính đến nguy cơ bị đưa vào danh sách đen; quốc gia trung chuyển phải cân nhắc quan hệ thương mại với Washington.

Nhưng sự chuyển hướng này cũng hé lộ một nghịch lý. Richard Nephew, chuyên gia từng phụ trách chiến lược trừng phạt Iran trong chính quyền Obama, nhận định lệnh trừng phạt không tạo tác động tức thời nhanh như việc đóng cửa eo biển Hormuz, đồng thời hiệu quả sẽ hạn chế nếu Mỹ không xác định rõ mục tiêu cuối cùng.

Chuyên gia Juan Zarate, cựu Phó cố vấn An ninh quốc gia Mỹ, cũng cho rằng câu hỏi quan trọng là Mỹ sẵn sàng đi xa đến đâu trong việc siết thương mại dầu và gây sức ép lên nước thứ ba, cũng như có đủ kiên nhẫn để chờ đợi tác động chính trị của khó khăn kinh tế hay không. Nói cách khác, Mỹ đang chuyển từ cuộc đọ sức bằng hỏa lực sang cuộc chiến về sức chịu đựng.

Chiến thuật của ông Trump khi mở cuộc chiến kinh tế chưa từng có với Iran - 2

Xuồng cao tốc Iran hoạt động ở eo biển Hormuz (Ảnh: Tasnim).

Mục tiêu của Mỹ: Khóa “đường sống” của Iran

Trọng tâm thứ hai của chiến dịch nằm ở một thực tế rất rõ: trừng phạt Iran trực tiếp đã gần chạm giới hạn; muốn gây sức ép lớn hơn, Mỹ phải đánh vào những nước và doanh nghiệp đang giúp Tehran vượt qua trừng phạt.

Iran đã sống dưới nhiều tầng cấm vận của Mỹ từ sau Cách mạng Hồi giáo năm 1979 và được cho là hình thành một hệ sinh thái thích nghi tương đối hoàn chỉnh: đội tàu “bóng đêm”, thay đổi đăng ký tàu, chuyển tải ngoài khơi, công ty bình phong, giao dịch bằng đồng tiền ngoài USD, ngân hàng ngầm và mạng lưới trung gian tại nhiều quốc gia. Bộ Tài chính Mỹ cho biết các nhà máy lọc dầu tư nhân Trung Quốc đóng vai trò lớn trong tiêu thụ dầu Iran, mặc dù cả Tehran và Bắc Kinh đều chưa lên tiếng về thông tin này.

Đây được xem là “gót chân Achilles” của chiến dịch mới. Nếu Mỹ không đụng tới khách hàng lớn nhất của Iran, việc tuyên bố cô lập kinh tế Tehran khó đạt ý nghĩa “chưa từng có”. Nhưng nếu Mỹ áp trừng phạt thứ cấp quy mô lớn đối với ngân hàng, doanh nghiệp hay nhà máy lọc dầu Trung Quốc, vấn đề Iran lập tức có nguy cơ biến thành một mặt trận mới trong cạnh tranh Mỹ - Trung.

Mỹ còn phải cân nhắc một đòn đáp trả khác: khoáng sản chiến lược và chuỗi cung ứng. Reuters lưu ý Trung Quốc là nhà cung ứng quan trọng nhiều loại đất hiếm cho Mỹ. Do vậy, một cuộc đối đầu kinh tế mới với Bắc Kinh quanh dầu Iran có thể tạo hiệu ứng ngược đối với chính các ngành công nghệ và công nghiệp quốc phòng Mỹ.

Trong bức tranh này, quyết định của UAE ngày 19/8 đình chỉ hoạt động thương mại và giao dịch tài chính với Iran “có ý nghĩa đáng kể”. Giới phân tích quốc tế nhấn mạnh, UAE không chỉ là một đối tác thương mại thông thường, mà trong nhiều năm qua còn đóng vai trò cửa ngõ tái xuất hàng hóa và trung tâm tài chính giúp doanh nghiệp Iran tiếp cận thị trường thế giới. Giáo sư Mohammad Farzanegan thuộc Đại học Marburg của Đức nhận định vai trò quan trọng của UAE nằm chính ở chức năng cửa ngõ vào hàng hóa và hạ tầng thương mại của nước thứ ba.

Nếu Mỹ có thể khiến nhiều trung tâm trung chuyển khác đi theo hướng này, vòng vây kinh tế đối với Tehran sẽ đáng kể hơn. IMF hiện dự báo GDP thực Iran năm 2026 giảm khoảng 5,4%, trong khi giá tiêu dùng tăng gần 69%. AP dẫn số liệu Bộ Tài chính Mỹ cho biết lượng dầu Iran bốc lên tàu đã giảm từ khoảng 1,8 triệu thùng/ngày trước chiến tranh xuống dưới 500.000 thùng/ngày trong tháng gần đây.

Tuy nhiên, kinh tế suy giảm không đồng nghĩa với thay đổi chính sách đối ngoại. Lãnh đạo Iran công khai tuyên bố sẵn sàng đối thoại nhưng không chấp nhận coi đàm phán là đầu hàng. Trang tin Kommersant của Nga từ đầu tháng 8 đã lưu ý quyền kiểm soát eo biển Hormuz trở thành công cụ quan trọng trong cách Iran tiến hành “cuộc chiến bất đối xứng” với một đối thủ vượt trội về sức mạnh quân sự như Mỹ. Đó là giới hạn căn bản của trừng phạt: Mỹ có thể làm tăng giá của sự kháng cự, nhưng không thể tự động quyết định ngưỡng chịu đựng chính trị của Tehran.

Phép thử Hormuz

Lý do thứ ba, có lẽ cấp bách nhất, nằm ở eo biển Hormuz. Mỹ không chỉ phải gây sức ép đối với Iran mà còn phải bảo đảm đòn gây sức ép ấy không phản hồi thành một cú sốc năng lượng đối với Mỹ và các đồng minh.

Tầm quan trọng của Hormuz rất khó thay thế. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), trước giai đoạn khủng hoảng, khoảng 20 triệu thùng dầu mỗi ngày đi qua eo biển, tương đương 20% lượng dầu tiêu thụ toàn cầu; hơn 20% thương mại LNG thế giới cũng sử dụng tuyến đường này. Phần lớn dầu và khí đốt qua eo Hormuz hướng tới thị trường châu Á. Hệ thống đường ống của Saudi Arabia và UAE có thể giảm bớt thiệt hại nhưng chỉ thay thế được một phần dòng chảy này.

Ngày 19/8, dữ liệu Kpler được Reuters dẫn cho thấy chỉ 6 tàu hàng hóa đi qua eo biển, giảm từ 9 tàu một ngày trước đó và thấp hơn mức trung bình 10 ngày là 11 tàu. Giá dầu Brent đóng cửa ở 91,62 USD/thùng, cao nhất gần bốn tuần; sang ngày 20/8 giá tiếp tục vượt 92 USD/thùng.

Song song với việc phong tỏa xuất khẩu của Iran, Mỹ còn âm thầm tìm cách mở “van dầu” khác cho các nước Vùng Vịnh. Trang tin Axios ngày 19/8 dẫn hai quan chức Mỹ cho biết quân đội Mỹ trong nhiều tuần đã điều phối một hành lang phía nam gần bờ Oman, hỗ trợ tàu dầu rỗng vào Vùng Vịnh, nhận dầu rồi quay trở ra. Theo các quan chức này, khoảng 15-20 tàu dầu được bố trí đi qua mỗi đêm và dòng dầu có lúc đạt gần 10 triệu thùng/ngày.

Những con số này cần được nhìn thận trọng bởi dữ liệu theo dõi tàu công khai của Kpler cho thấy lưu lượng quan sát được thấp hơn đáng kể; nhiều tàu sử dụng hành lang quân sự có thể hoạt động hạn chế tín hiệu định vị. Guardian cũng lưu ý sự chênh lệch giữa tuyên bố của quan chức Mỹ và dữ liệu theo dõi hàng hải độc lập.

Dù quy mô chính xác thế nào, logic chiến lược đã khá rõ: Mỹ đang cố tách dầu của Iran khỏi dầu của phần còn lại Vùng Vịnh. Iran bị hạn chế xuất khẩu, trong khi Ả rập Xê út, UAE, Kuwait và các đối tác khác phải được duy trì khả năng đưa năng lượng ra thế giới. Nếu làm được, Mỹ vừa gia tăng sức ép lên nguồn thu Tehran, vừa hạn chế cú sốc nguồn cung toàn cầu.

Nhưng đây là thao tác có biên an toàn rất hẹp. Chuyên gia Danny Citrinowicz, cựu lãnh đạo bộ phận Iran của tình báo quân đội Israel, cho rằng hành lang hàng hải do Mỹ bảo vệ là thành công đáng chú ý về tác chiến nhưng khó có khả năng khiến Iran đầu hàng hoặc thay đổi căn bản lập trường đàm phán. CSIS cũng đánh giá Tehran dường như tin rằng họ có thể chịu đựng sức ép kinh tế và quân sự lâu hơn Washington, trong khi khả năng gây bất ổn ở eo biển Hormuz hiện trở thành đòn bẩy thương lượng mạnh nhất của Iran.

Thời gian lại không hoàn toàn đứng về phía Nhà Trắng. Giá nhiên liệu cao đang lan tới đời sống của người dân Mỹ. Reuters ngày 17/8 cho biết giá xăng trung bình tại Mỹ quanh mức 4,06 USD/gallon; Financial Times ghi nhận giá diesel tăng mạnh, kéo chi phí vận tải, nông nghiệp và hàng hóa đi lên đúng trước bầu cử giữa nhiệm kỳ tháng 11. Một khảo sát của Reuters/Ipsos công bố ngày 17/8 đưa tỷ lệ ủng hộ Tổng thống Trump xuống 33%, thấp nhất trong nhiệm kỳ hiện tại; khảo sát trước đó chỉ khoảng 1/3 người Mỹ ủng hộ cuộc chiến với Iran.

Do đó, chiến dịch kinh tế “chưa từng có” còn phục vụ một mục tiêu trong nước: tạo cảm giác Mỹ đang chuyển từ một cuộc chiến tốn kém, khó kết thúc sang một hình thức gây sức ép ít rủi ro quân sự trực tiếp hơn, đồng thời tìm cách đưa giá dầu xuống trước thời điểm nhạy cảm về chính trị.

Song đây chưa thể coi là “lối thoát”. Nếu trừng phạt thứ cấp quá rộng, Mỹ có thể va chạm với Trung Quốc, làm rối chuỗi cung ứng và đẩy giá năng lượng tăng thêm. Nếu Washington không thực thi đủ mạnh, Tehran có thể tiếp tục dựa vào đội tàu bóng tối, mạng lưới trung gian và doanh thu từ Trung Quốc. Nếu các cuộc tấn công hàng hải tiếp diễn, những thành quả của hành lang dầu phía nam cũng có thể nhanh chóng bị đảo ngược.

Vì vậy, giá trị thực sự của chiến dịch mới sẽ không được đo bằng số thực thể bị đưa vào danh sách trừng phạt, mà bằng việc sức ép đó có tạo ra một cấu trúc thương lượng khả thi hay không. Chuyên gia luật quốc tế Marc Weller của Chatham House cho rằng giải pháp thực tế cho eo biển Hormuz cuối cùng vẫn phải quay lại đàm phán về tự do hàng hải và một thỏa thuận ngừng bắn có thể duy trì.

Như vậy, tuyên bố ngày 19/8 của Tổng thống Trump vì thế vừa thể hiện sức mạnh, vừa cho thấy giới hạn của sức mạnh Mỹ. Washington còn nhiều công cụ tài chính mà Tehran khó đối trọng tương xứng; nhưng Iran sở hữu một “quân bài địa kinh tế” đặc biệt là Hormuz, trong khi Trung Quốc có khả năng làm suy giảm hiệu lực cô lập.

Cuộc đấu hiện nay do đó không còn đơn thuần là câu hỏi ai có nhiều tên lửa hơn hay nền kinh tế lớn hơn. Nó trở thành cuộc thi xem bên nào chịu được chi phí lâu hơn, bên nào giữ được các đối tác quan trọng hơn và, quan trọng nhất, bên nào có thể chuyển sức ép thành một thỏa thuận mà đối phương vẫn có thể chấp nhận. Nếu không giải được phương trình ấy, “chiến dịch kinh tế chưa từng có” có thể làm Iran suy yếu hơn, nhưng chưa chắc đưa Trung Đông tới gần hòa bình hơn.

Theo VZ, CSIS, Eadaily