Tâm điểm

Phát triển xanh: Yêu cầu bắt buộc trong giai đoạn mới

Khi “phát triển xanh” và “kinh tế tuần hoàn” được xác định là yêu cầu bắt buộc, chúng ta không chỉ đang nói về một xu hướng, mà là đang định vị nền tảng phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Báo cáo về các Văn kiện trình Đại hội XIV Đảng do Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày tại Đại hội nêu rõ: Văn kiện thể hiện rõ sự đổi mới mạnh mẽ tư duy về phát triển; xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm; thể chế hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng; phát triển xanh, bền vững, hiệu quả; kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu bắt buộc; hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng suất lao động là thước đo chất lượng tăng trưởng.

Như vậy, bên cạnh các yếu tố quan trọng khác, phát triển xanh, bền vững, hiệu quả và kinh tế tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu có vị trí là “yêu cầu bắt buộc” trong đường lối phát triển của Việt Nam thời gian tới.

Thông điệp từ diễn đàn Đại hội XIV rất rõ ràng: Chúng ta không chấp nhận đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng!

Phát triển xanh: Yêu cầu bắt buộc trong giai đoạn mới - 1

Hoàng hôn buông nắng xuống Trung tâm Hội nghị Quốc gia - một trong những công trình được bao phủ nhiều cây xanh nhất ở Thủ đô (Ảnh: Lê Hoàng Vũ).

Để hiện thực hóa yêu cầu bắt buộc kể trên, các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương cần cụ thể hóa thành những “bản đồ hành động” cụ thể. Trong đó, tôi cho rằng công việc quan trọng đầu tiên là tiếp tục hoàn thiện các chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và tăng trưởng xanh; chú trọng hướng dẫn phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn và cơ chế tài chính bền vững cho nền kinh tế tuần hoàn.

Kế tiếp là đầu tư hạ tầng xử lý rác thải, nước thải tại các làng nghề; giảm thiểu ô nhiễm không khí và vấn nạn rác thải nhựa.

Đặc biệt, việc phát triển “tài chính xanh” thông qua định giá chi phí môi trường, tín chỉ carbon hay trái phiếu xanh sẽ là đòn bẩy để dòng vốn chảy vào các dự án bền vững. Cuối cùng, không thể thiếu vai trò của quản trị số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc giám sát hệ sinh thái và giảm phát thải.

Ứng xử với tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên chính là một trong các nguồn lực của quốc gia, bao gồm tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo. Tài nguyên không tái tạo như quặng than, sắt, titan, đất hiếm, dầu khí… chỉ mất đi khi được khai thác, sử dụng. Việc tìm ra những dạng tài nguyên mới có thể thay thế những tài nguyên không tái tạo rất khó và thông thường tốn rất nhiều công sức, yêu cầu nguồn kinh phí thường là khổng lồ. Vì vậy, để phát triển bền vững, cần phải sử dụng hiệu quả, hợp lý và tiết kiệm những tài nguyên không tái tạo hiện có.

Tài nguyên tái tạo là dạng tài nguyên quan trọng nhất phục vụ phát triển. Đây là dạng tài nguyên có thể tự khôi phục nếu được khai thác, sử dụng trong giới hạn cho phép. Loại tài nguyên này bao gồm tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật.

Tài nguyên sinh vật là toàn bộ các cơ thể sống (động, thực vật, vi sinh vật và các dạng sống khác) và đa dạng sinh học (gen, loài, hệ sinh thái), có khả năng cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái – những giá trị và lợi ích phục vụ đời sống của con người.

Các dịch vụ hệ sinh thái do tài nguyên sinh vật cung cấp là điều kiện để con người tồn tại và cũng là nguồn lực phát triển, như thức ăn, nước uống sạch, không khí sạch, khí hậu trong lành, cảnh quan xinh đẹp… Tài nguyên sinh vật có thể tự khôi phục nếu chúng được khai thác trong giới hạn tái tạo.

Ví dụ, nguồn cá biển có thể không giảm đi nếu loài người chỉ khai thác những loại cá biển có độ lớn thích hợp, không khai thác con non hoặc cá biển trong mùa sinh đẻ, và khai thác với tốc độ bằng với tốc độ cá biển được sinh ra và lớn lên. Bởi vậy, quản lý việc khai thác tài nguyên sinh vật là tối quan trọng để bảo đảm chúng ta luôn có khả năng khai thác chúng ở mức độ cao nhất cho phép.

Tài nguyên tái tạo phi sinh vật là năng lượng gió, năng lượng ánh nắng mặt trời, năng lượng thủy triều, các cảnh quan đẹp, các bãi cát… Những tài nguyên này cần được bảo vệ để chúng không bị suy thoái, qua đó có thể khai thác lâu dài. Ngoài ra, việc khai thác một loại tài nguyên có thể có ảnh hưởng tới các loại tài nguyên khác. Thí dụ, khai thác năng lượng mặt trời, năng lượng gió có thể ảnh hưởng tới tài nguyên rừng và tài nguyên cảnh quan.

Việc khai thác cát biển hoặc chặn nguồn sông để khai thác thủy điện, nước sạch phục vụ sinh hoạt và tưới cho nông nghiệp có thể làm gia tăng xói lở bờ biển, dẫn tới mất các bãi biển đẹp có giá trị du lịch, nghỉ dưỡng cao hoặc mất rừng ngập mặn, ảnh hưởng tới tài nguyên sinh vật vùng bờ biển. Việc quản lý loại tài nguyên này – bao gồm phân bổ sử dụng tài nguyên một cách hợp lý nhất – phải tuân theo nguyên tắc: khai thác một loại tài nguyên không hoặc ít ảnh hưởng tới các loại tài nguyên khác.

Có thể nói, bài toán quản lý tài nguyên trong kỷ nguyên mới phần nào là bài toán về sự hài hòa, tránh xung đột giữa các lợi ích kinh tế ngắn hạn và bảo tồn, phát triển.

Phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu có xu hướng làm gia tăng thiên tai. Nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước biển tăng cao làm gia tăng bốc hơi nước biển, dẫn tới các cơn bão mạnh hơn và mưa với cường độ lớn hơn trong thời gian ngắn.

Bão mạnh tàn phá nhà cửa, cơ sở hạ tầng, phá hoại mùa màng và gây mưa lớn. Mưa lớn trong bão và gió mùa gây lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất. Thiếu hụt bùn cát cung cấp cho bờ biển do các đập được xây dựng tại thượng nguồn sông, cùng với sóng lớn trong bão, gió mùa và nước biển dâng, gây nên hiện tượng xói lở bờ biển.

Các đợt nắng nóng kéo dài gây ra hiện tượng tẩy trắng san hô, làm san hô chết hàng loạt và phân tầng mật độ nước mạnh mẽ, tạo ra các vùng cạn kiệt ô xy, hay nói cách khác là vùng chết tại đáy biển gần bờ. Nắng nóng kéo dài cũng làm nước sông, hồ, đồng ruộng bốc hơi mạnh và gây ra các đợt hạn hán kéo dài.

Nhận thức rõ ràng những tác động xấu của thiên tai và biến đổi khí hậu tới phát triển bền vững, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nêu rõ những nội dung, công việc cần phải làm để ứng phó hiệu quả với thiên tai và biến đổi khí hậu.

Đó là triển khai Đề án bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước; xây dựng, hoàn thiện hệ thống bản đồ rủi ro thiên tai, hệ thống cảnh báo sớm thiên tai; xây dựng các hồ chứa lớn tại miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung Bộ; triển khai chương trình phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long (hồ chứa nước, hệ thống giữ nước, công trình điều tiết nước, phòng, chống sạt lở, sụt lún, hạn hán, xâm nhập mặn…); triển khai chương trình phòng, chống lũ lụt, sạt lở vùng trung du và miền núi; bố trí hợp lý khu dân cư và hỗ trợ phát triển nhà ở cho người dân tại các vùng thường xuyên chịu tác động của thiên tai, bão lũ, sạt lở đất.

Việt Nam đã cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Netzero) vào năm 2050. Đây là một lộ trình đầy thách thức nhưng cũng là cơ hội để bứt phá. Để làm được điều đó, thị trường carbon phải sớm được hình thành và các nguồn năng lượng mới phải được triển khai quyết liệt.

Bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên một cách nghiêm túc, chặt chẽ là một trong các nền tảng để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Tác giả: PGS.TS Vũ Thanh Ca là Giảng viên cao cấp Khoa Môi trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội. Ông nguyên là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam; thành viên nhóm chuyên gia môi trường biển của Liên hợp quốc.

Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!