Bức thư gửi mẹ từ chiến trường của người lính trẻ trước lúc hy sinh
(Dân trí) - Trong thư gửi mẹ và anh chị, liệt sĩ Hồ Văn Kã báo tin mình vẫn khỏe. Nào ngờ đó là những dòng thư cuối cùng của người lính trẻ, bởi hơn một tháng sau, anh đã hy sinh nơi chiến trường.
Bức thư gửi mẹ từ chiến trường
“Con đã hy sinh rồi vẫn tranh thủ biên thư về thăm mẹ, anh chị và mấy cháu đây! Mẹ nghĩ con buồn cười không nào?”. Đó là cách mở đầu bức thư gửi mẹ và người thân từ chiến trường của liệt sĩ Hồ Văn Kã (SN 1950, tên gọi khác là Hồ Văn Cả).
Bức thư được liệt sĩ Kã viết vào ngày 19/5/1972, thời điểm anh đang chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Người lính trẻ nhắc về sự hy sinh một cách nhẹ nhàng, như thể cái chết đã được anh bình thản đón nhận giữa những ngày chiến tranh khốc liệt. Anh không muốn mẹ quá lo lắng, nên ngay cả khi nhắc đến điều đau đớn nhất, lời thư vẫn giữ giọng điệu hóm hỉnh, thân tình.

Bức thư của liệt sĩ Hồ Văn Kã trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Quảng Trị (Ảnh: Nhật Anh).
Liệt sĩ Kã sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng ở xã Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, con trai duy nhất trong gia đình có 8 chị em. Anh nhập ngũ khi còn rất trẻ, năm 1968 đã làm Đại đội trưởng Đại đội 7, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 270, Sư đoàn 341.
Năm 1972, đơn vị của người lính Hồ Văn Kã tham gia chiến dịch giải phóng Quảng Trị. Trong cuộc chiến đấu ác liệt năm ấy, anh đã hy sinh tại một điểm chốt trên quốc lộ 1A, đoạn qua xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng cũ (nay là xã Diên Sanh, tỉnh Quảng Trị) vào ngày 2/7/1972, khi mới 22 tuổi.
Trong bức thư cuối cùng gửi về cho mẹ và anh chị trước lúc hy sinh hơn một tháng, người lính Hồ Văn Kã gần như không kể về những hiểm nguy mình đang đối mặt. Anh chỉ báo bản thân vẫn khỏe và nhắn mẹ hãy yên tâm, tin rằng anh sẽ trở về thăm mẹ.
“Từ bữa xa mẹ ra đi đến nay con vẫn khỏe và như lần trước con đã biên thư cho mẹ đó, bữa nay con khỏe hơn rồi, con về thăm mẹ điều đó là sự thật, mẹ tin ở con!
Khi mô (nào) có dịp con sẽ kể ngày ấy con về Quảng Trị. Một điều vui nữa là trong những ngày cả nước lên đường, thì con có trong đoàn quân Nam Tiến, tuy nỏ có chi (chẳng có gì) nhưng được đóng góp công sức nhỏ bé của con để cùng bà con hai miền Nam - Bắc cùng góp sức đánh Mỹ Ngụy, để kiên quyết giải phóng miền Nam ruột thịt”, trích trong thư của liệt sĩ Kã.

Bức thư của liệt sĩ Hồ Kã được phục chế từ tư liệu gốc (Ảnh: Gia đình cung cấp).
Trong thư, liệt sĩ Kã còn bày tỏ niềm vui khi biết người thân nơi quê nhà vẫn bình an, đồng thời nhắn nhủ mẹ phải vui, yên tâm và đừng lo lắng về mình. Anh hiểu mẹ mong tin con, nhưng cũng muốn mẹ hiểu rằng cuộc chiến còn ở phía trước và anh chưa thể trở về.
“Một điều làm con vui hơn khi được tin gia đình an toàn, bà con ngoài ấy nỏ (không) ai can chi (bị gì) mà trong ni (này) cũng rứa. Mẹ à, mẹ đừng tưởng rằng bom đạn Mỹ nhiều có thể làm cho chúng con mất mát đi nhiều, không đến nỗi gì, chúng nó chẳng mần (làm) được chi (gì) chúng con đâu mà ngược lại chúng con đuổi nó chạy đó.
Cuộc chiến đấu của chúng con mới là bước đầu, chúng con còn đi, còn đánh… Phải đánh đến cùng để giành lại đất nước, nhất thiết mẹ đồng ý cho con làm như vậy thì mẹ phải vui và yên tâm, đừng lo lắng về con nhiều”, liệt sĩ Kã viết.
Không chỉ nhắn nhủ mẹ, người lính trẻ còn dành những dòng cuối để dặn dò chị gái, hỏi thăm người thân và nhắc mọi người phải vững vàng. Giữa những lời căn dặn ấy vẫn xen các câu chuyện đời thường, cho thấy sự gần gũi, tình cảm của người lính trẻ với gia đình.

Bức thư được gia đình liệt sĩ Hồ Văn Kã trao tặng cho Bảo tàng Quảng Trị vào năm 2011 (Ảnh: Nhật Anh).
“Về phần chị Điệp, động viên mẹ thay em chị nghe (nhé), và kể cả chị cũng phải vững vàng, mà nhất là chị hay nghĩ lung tung nhất đó. Chị đừng lo về em chị nghe! Còn về phần chị ngoài công tác xã hội cố gắng chăm sóc các cháu cho khỏe, ngoan và phòng tránh tốt, đừng để các cháu xao nhãng về chơi mà trốn tránh không tốt”, người lính trẻ nhắn nhủ chị gái Hồ Thị Điệp.
Những kỷ vật lưu giữ ký ức người lính trẻ
Bức thư của liệt sĩ Kã đang được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Quảng Trị. Hơn nửa thế kỷ đã qua, giấy úa màu, nét mực đã phai, nhiều chỗ không còn nguyên vẹn, nhưng tình cảm của người lính trẻ dành cho mẹ, anh chị và quê nhà vẫn hiện rõ qua từng trang giấy.
Bà Trần Thị Triều (72 tuổi, cháu ruột liệt sĩ Kã) cho biết người cậu là con trai út trong gia đình, còn bà là con chị cả nên tuổi tác hai cậu cháu không chênh lệch nhiều. Bởi vậy, bà Triều biết khá rõ về cuộc đời và những câu chuyện gắn với liệt sĩ Kã.

Những câu chuyện về người cậu liệt sĩ luôn được bà Triều nhắc nhớ (Ảnh: Nhật Anh).
Theo bà Triều, liệt sĩ Kã tình nguyện vào chiến trường nhưng giấu gia đình. Thời điểm ấy, mẹ của liệt sĩ Kã vẫn nghĩ con đang học tập ở phía Bắc, đến khi nhận được thư mới biết con đã ra trận.
Bà Triều cho hay liệt sĩ Kã hy sinh năm 1972, nhưng đến năm 1979 gia đình mới tìm được hài cốt tại một điểm chốt trên quốc lộ 1A. Hài cốt được bọc trong tăng võng, bên cạnh còn chiếc bi đông và khẩu súng, những kỷ vật gắn với những ngày tháng cuối cùng của người lính trẻ.
“Cậu mất một thời gian thì gia đình nhận được tin, nhưng không biết rõ cậu hy sinh ở đâu. Năm 1979, nhờ một đồng đội báo tin, chỉ dẫn, gia đình mới tìm được hài cốt ở huyện Hải Lăng cũ và đưa về quê. Lúc đó bà ngoại tôi vẫn còn khỏe, bà thường xuyên nhắc và kể chuyện về cậu”, bà Triều kể.

Ông Hiệu cùng con trai đọc lại những trang nhật ký của liệt sĩ Hồ Văn Kã (Ảnh: Nhật Anh).
Ông Đào Xuân Hiệu (51 tuổi), cháu ruột liệt sĩ Kã cho biết bên cạnh bức thư gửi mẹ, liệt sĩ Kã còn có một cuốn nhật ký dày 50 trang, được viết trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 3/1968.
Nội dung cuốn nhật ký ghi lại những tâm tư, tình cảm của người lính Hồ Kã đối với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và quá trình sống, đấu tranh hết sức gian khổ của người lính trong những năm chống Mỹ cứu nước.
Ông Hiệu cho biết năm 2011, gia đình đã trao tặng cuốn nhật ký và lá thư của liệt sĩ Hồ Văn Kã cho Bảo tàng Quảng Trị để lưu giữ, trưng bày.
“Cậu Kã luôn là người anh hùng trong lòng con cháu. Qua từng trang nhật ký, từng dòng thư và những câu chuyện được kể lại, hình ảnh ông vẫn hiện diện trong gia đình, giản dị, gần gũi nhưng cũng đầy kiên cường”, ông Hiệu nói.
Với những cống hiến to lớn, liệt sĩ Hồ Văn Kã đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Bằng Tổ quốc ghi công, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang… và nhiều phần thưởng cao quý khác.







