(Dân trí) - Mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP trên 10% không chỉ là con số mà là cam kết chiến lược buộc cả hệ thống phải đổi động cơ, thay thế mô hình cũ bằng năng suất, công nghệ và thể chế.

Lùi mãi, đến tháng 4, chị Phương, chủ một quán phở ở Thanh Xuân (Hà Nội) mới quyết tăng giá thêm 5.000 đồng/bát. “Phở bò tái chín từ 45.000 đồng lên 50.000 đồng, thêm bắp hoa tăng từ 55.000 đồng lên 60.000 đồng nhưng trà đá, sâm dứa quán vẫn miễn phí. Tôi thông báo công khai, dán bảng tin ở cửa, khách đến đa số đều vui vẻ mà không ai ý kiến gì cả, chỉ thi thoảng có người hỏi “tăng giá à” nhưng hỏi xong thế thôi, vẫn đến quán đều”, chị Phương chia sẻ.
Mỗi ngày, quán của chị Phương bán được khoảng 100-150 bát, có giảm khoảng 10% so với giai đoạn trước nhưng doanh thu vẫn đảm bảo để chị duy trì được việc kinh doanh.
Câu chuyện quán phở của chị Phương là một trong những ví dụ điển hình cho thấy tiêu dùng với nhu cầu thiết yếu vẫn tăng, ngay cả trong bối cảnh vật giá bị tác động bởi một số nhân tố khách quan, đẩy giá thành sản phẩm, dịch vụ nhích lên.

Theo thống kê mới nhất của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tháng 3, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 638.600 tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung quý I năm nay, chỉ số trên đạt hơn 1,9 triệu tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7%.
Trong thống kê, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ theo giá hiện hành được hiểu là tổng giá trị tiền tệ của tất cả hàng hóa và dịch vụ được bán trực tiếp cho người cuối cùng trong kỳ nhất định và được tính theo giá tại thời điểm khảo sát. Chỉ số này phản ánh quy mô thị trường trong nước, sức mua và mức sống cư dân, thường tăng cùng với sự phát triển kinh tế và nhu cầu tiêu dùng. Đây là chỉ số quan trọng để đánh giá tình hình kinh tế xã hội. Số liệu trên cho thấy chỉ số không ảm đạm, trái lại vẫn có sự tăng trưởng 2 con số.
Dù thế, không phải không có những áp lực “âm thầm”. Giá hàng hóa dịch vụ tăng là thực tế được ghi nhận tại nhiều thành phố lớn, trong đó có Hà Nội.

Số liệu của Cục Thống kê mới nhất cũng cho thấy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm nay tăng 1,23% so với tháng trước, tăng 2,44% so với tháng 12/2025 và tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước, cũng là mức tăng CPI cao nhất của tháng 3 so với cùng kỳ năm cũ trong vòng 5 năm qua. Tuy vậy, mức tăng CPI chung của quý I năm nay là 3,51%, lạm phát cơ bản tăng 3,63% vẫn dưới 4%, trong tầm kiểm soát.
Những số liệu trên đang phản ánh một thực tế, thị trường có bị tác động bởi các yếu tố, nhưng về cơ bản vẫn cân đối, đảm bảo đóng góp vào mức tăng trưởng 7,83% của quý I mà không gây lạm phát vượt ngưỡng. Mức tăng trưởng này, dù còn cách mục tiêu đặt ra, nhưng cho thấy sự phục hồi kinh tế tích cực trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là căng thẳng địa chính trị tại Iran và những vấn đề liên quan nguồn cung năng lượng, logistics, chuỗi cung ứng…

Tại phiên thảo luận ở tổ về kinh tế xã hội ở Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã phân tích, làm rõ và nhấn mạnh thêm một số điểm trọng tâm trong Báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2025, tình hình triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và một số báo cáo. Trong đó, mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số được phân tích thêm.
Theo Thủ tướng, dù thách thức là rất lớn, nhưng khi đã thống nhất cao về tư duy, nhận thức và hành động cùng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng hành của Quốc hội, các địa phương, doanh nghiệp và người dân, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để đạt được mục tiêu này.
Để đạt tăng trưởng kinh tế 2 con số cần nguồn lực đầu tư rất lớn. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần đạt khoảng 40% GDP, tương đương 38,5 triệu tỷ đồng, cao hơn mức 33% của nhiệm kỳ trước. Vốn đầu tư công từ Ngân sách Nhà nước khoảng trên 8 triệu tỷ đồng (nhiệm kỳ trước khoảng 2,87 triệu tỷ đồng).

Dù thế, con số hơn 8 triệu tỷ đồng này cũng chỉ đáp ứng khoảng 20% tổng đầu tư toàn xã hội, 80% còn lại buộc phải được huy động từ nguồn lực xã hội, doanh nghiệp trong nước, vốn đầu tư nước ngoài (FDI, FII). Các mục tiêu trên cần được đặt trên nền tảng vững chắc là ổn định kinh tế vĩ mô.
“Xây nhà phải gia cố móng trước khi nâng tầng. Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng nóng; tăng trưởng cao mà phải đánh đổi bằng sự bất ổn vĩ mô, vì cái giá phải trả sẽ rất đắt và lớn hơn rất nhiều", Thủ tướng Chính phủ phát biểu.
Rõ ràng, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu về tăng trưởng cao và bền vững. Theo nhận định của giới chuyên gia, phấn đấu tăng trưởng kinh tế 2 con số không chỉ là mục tiêu mà còn là thước đo cho sức bật của một quốc gia. Đây cũng được xác định là mệnh lệnh phát triển để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước.
Bình luận về bối cảnh hiện nay, TS Bùi Thanh Minh - Phó giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu và Phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) - cho rằng mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân hai con số trong giai đoạn 2026-2031 trước hết cần được hiểu là một cam kết phát triển ở tầm chiến lược, chứ không chỉ là một chỉ tiêu kỹ thuật.
"Đây là thông điệp cho thấy Việt Nam không muốn tiếp tục vận hành nền kinh tế theo quán tính của mô hình tăng trưởng cũ - vốn dựa nhiều vào lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên, gia công và lợi thế chi phí - mà đặt ra yêu cầu phải chuyển sang một mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, khu vực tư nhân và cải cách thể chế", ông phân tích.

Nhìn từ số liệu, nền kinh tế đã có nền tảng tích cực. GDP quý I năm nay tăng 7,83%, cao hơn mức 7,07% của quý I/2025; trong đó tiêu dùng cuối cùng tăng 8,45%, tích lũy tài sản tăng 7,18%, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 19,85%. Tuy nhiên, để đạt bình quân 10% trong cả giai đoạn thì mức tăng của một quý hay một năm là chưa đủ. Giai đoạn 2021-2025, tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam ước khoảng 6,3%/năm; năm 2024 tăng 7,09%, năm 2025 tăng 8,02%.
"Để bước lên quỹ đạo 10%, Việt Nam không chỉ cần tăng tốc mà phải đổi động cơ tăng trưởng", TS Minh khẳng định.
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy tăng trưởng cao kéo dài là rất khó. Những nền kinh tế Đông Á từng duy trì tăng trưởng cao như Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc đều không chỉ dựa vào đầu tư lớn, mà còn đi kèm cải cách thể chế, công nghiệp hóa có chọn lọc, nâng cấp công nghệ, phát triển doanh nghiệp bản địa và cải thiện mạnh năng suất. Điểm khác biệt là các quốc gia đó có giai đoạn tăng trưởng hai con số ở giai đoạn đầu, khi quy mô GDP chưa lớn. Việt Nam thì khác - đang phải tăng tốc ở chặng giữa và nước rút, trong khi già hóa dân số và nguy cơ bẫy thu nhập trung bình hiện hữu.
"Trong một chặng đua marathon, chúng ta đang phải chạy nhanh hơn ở cả đoạn giữa và nước rút", TS Minh ví von.


Ở góc độ doanh nghiệp, bà Nguyễn Ngọc Linh, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Chứng khoán DNSE, đánh giá mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số là tham vọng nhưng có cơ sở, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế đang ghi nhận những tín hiệu tích cực ngay từ đầu năm.
"Doanh nghiệp rất ủng hộ và kỳ vọng tăng trưởng hai con số có thể được duy trì trong một giai đoạn đủ dài để tạo dư địa phát triển", bà Linh nói.
Lãnh đạo công ty chứng khoán này đánh giá khả năng đạt mục tiêu này là khả thi, nhờ các chính sách điều hành mới đang được triển khai với tính chất đột phá chưa từng có tiền lệ, đặc biệt trong việc mở rộng tín dụng và định hướng các ngành kinh tế mũi nhọn.
Ông Phạm Tuấn Anh - Thành viên Hội đồng Thành viên Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) cho rằng, năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực là những nhân tố quan trọng trong câu chuyện tăng trưởng 2 con số.
"Năm 2026 là năm bản lề và giai đoạn 2026-2031 là giai đoạn quyết định", TS Bùi Thanh Minh nhận định. Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã tạo dựng được những nền tảng vững chắc: GDP hơn 514 tỷ USD năm 2025, đứng thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, bước sang giai đoạn thu nhập trung bình cao. Thế và lực đã khác - đó là điều kiện cần. Nhưng điều kiện đủ là năng lực thực thi.
Các định hướng lớn về phát triển kinh tế tư nhân, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, cải cách thể chế, phát triển hạ tầng và cắt giảm thủ tục hành chính đang tạo thành một "la bàn phát triển" mới. Đây cũng là giai đoạn trọng tâm vào thực thi sau khi những chính sách lớn với các Nghị quyết quan trọng đã được ban hành.

Việc đặt ra kịch bản tăng trưởng 2 con số cho cả giai đoạn 5 năm là chưa từng có tiền lệ - thể hiện quyết tâm thay đổi và khát vọng hướng đến mục tiêu 2045 trở thành nước thu nhập cao, vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Theo TS Minh, cần "tích cực về nội lực, nhưng cẩn trọng về ngoại lực". Tăng trưởng cao giai đoạn tới không thể chỉ trông vào chu kỳ thuận lợi bên ngoài. Việt Nam phải chủ động xây dựng năng lực nội sinh: thị trường trong nước mạnh hơn, doanh nghiệp tư nhân mạnh hơn, công nghệ nội địa tốt hơn, thể chế linh hoạt hơn và năng suất cao hơn.
"Để mục tiêu trở thành hiện thực, Việt Nam phải kiên định hai nguyên tắc cùng lúc: tăng trưởng cao để vượt giới hạn cũ, và ổn định vĩ mô để bảo đảm phát triển bền vững - ổn định vĩ mô là nền tảng, là chiếc dây để giữ một chiếc diều muốn bay cao", TS Bùi Thanh Minh kết lại.
Vấn đề đặt ra là, để đạt được mục tiêu tăng trưởng 10% trong bối cảnh đầy biến động đó, đâu là những "cỗ máy" chủ lực? Đầu tư công kỷ lục có đủ sức dẫn dắt? Kinh tế tư nhân đã thực sự trở thành động lực trung tâm như kỳ vọng? Khoa học công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập chuỗi giá trị toàn cầu đang đóng vai trò như thế nào - và chúng ta đang thiếu gì để kích hoạt hết công suất những cỗ máy đó?
Bài 2: Phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10%: Việt Nam có gì, cần gì?











