Tết trên nắp hầm địa đạo và bữa cơm đoàn viên của Đại tá tình báo Tư Cang
(Dân trí) - Trong cuộc đời binh nghiệp, Đại tá Tư Cang đã đi qua nhiều cái Tết buồn vui. Ở tuổi 98, ông rưng rưng nhớ những mùa xuân nơi chiến trường bên đồng đội, mùa xuân ngày hòa bình đoàn tụ bên gia đình.
Ăn Tết bên rẫy mì trên đường hành quân
Đại tá Tư Cang sinh năm 1928, tên thật là Nguyễn Văn Tàu, quê ở Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ). Ông tham gia cách mạng từ sớm, gắn bó trọn đời với sự nghiệp tình báo quốc phòng. Mùa xuân này, Đại tá Tư Cang bước sang tuổi 98. “Nếu tính cả tuổi mụ, tôi đã 99 tuổi, sắp tròn 100 rồi”, ông nói bằng giọng hóm hỉnh.
Ở cái tuổi “xưa nay hiếm”, vị đại tá có khuôn mặt đầy vết đồi mồi, mái tóc bạc phơ, chân đi không vững phải chống gậy, nhưng tinh thần và trí nhớ của ông lại rất minh mẫn.

Đại tá Tư Cang trò chuyện với phóng viên dịp đầu năm mới (Ảnh: Bích Phương).
Trò chuyện cùng phóng viên Dân trí trong căn phòng khách tại tư gia đơn sơ ở TPHCM, Đại tá Tư Cang bồi hồi nhớ những cái Tết nơi chiến trường. Từ những ngày đầu làm quân báo của Việt Minh trên quê hương Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đến lúc tập kết ra Bắc làm chính trị viên đại đội đặc công Sư đoàn 338, rồi sau này trở lại miền Nam, trực tiếp chỉ huy Cụm tình báo H.63, cuộc đời cách mạng của ông Tư Cang gắn liền với gần ba thập kỷ xa nhà, xa vợ con.
Ba thập kỷ ấy, cứ mỗi độ xuân về, ông Tư Cang lại cồn cào nỗi nhớ gia đình. Giữa những tháng năm biền biệt, niềm an ủi lớn nhất của người lính tình báo là tình đồng đội keo sơn, tình quân dân mộc mạc mà ấm áp.
Ông kể về mùa xuân năm 1957, khi cùng đồng đội Sư đoàn 338 đón Tết tại thị xã Quảng Yên (Quảng Ninh). “Tết năm đó vui lắm. Chúng tôi tổ chức biểu diễn văn nghệ phục vụ bà con. Tôi còn trổ tài múa gậy, múa lân trên sân khấu. Những món nghề của con nhà võ được mang ra biểu diễn, phía dưới bà con ai nấy đều vỗ tay động viên, xúc động vô cùng”, ông nhớ lại.

Ảnh chụp Đại tá Tư Cang vào tháng 5/1961 (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Cuối năm 1961, ông cùng đoàn Phương Đông 2 vượt dãy Trường Sơn, lên đường trở về miền Nam. Cuộc hành quân gian nan với nhịp đi 50 phút, nghỉ 10 phút. Mỗi bữa ăn chỉ có một vắt cơm, cả đoàn 300 người lính không ai đủ no.
Tết năm 1962, khi đang dọc đường hành quân, ông Tư Cang và đồng đội bắt gặp rẫy mì bạt ngàn do người dân trồng, lòng trào dâng xúc động. “Đảng vận động bà con trồng mì trên những tuyến đường bộ đội hành quân, để tiếp thêm lương thực cho chiến sĩ. Gặp được rẫy mì, chúng tôi mừng lắm. Ai cũng đói cồn cào, nên quyết định dừng lại 3 ngày để ăn Tết.
Chúng tôi đào mì, nướng lên, làm bánh, ăn thỏa thích rồi lại lên đường. Vì ăn quá nhiều củ mì, gần một phần ba đơn vị bị say, lăn ra ốm. Nhưng cả đoàn vẫn cắn răng hành quân, cuối cùng cũng đến được Chiến khu D, bảo toàn quân số. Đời chiến sĩ khổ cực, nhưng vẫn có niềm vui”, ông Tư Cang kể.
Tết trên nắp hầm ở chiến khu địa đạo
Một trong những cái Tết in đậm trong tâm trí Đại tá Tư Cang là mùa xuân năm 1967 tại địa đạo Phú Hòa Đông (Củ Chi cũ).
Thời điểm ấy, ông là chỉ huy Cụm tình báo H.63. Ngoài điệp viên chiến lược Phạm Xuân Ẩn hoạt động tại Sài Gòn, phần lớn cán bộ, chiến sĩ của cụm bám trụ ở Củ Chi, làm nhiệm vụ bảo vệ điện đài vô tuyến, giữ mạch liên lạc thông suốt để truyền đạt chỉ thị từ sở chỉ huy phục vụ cách mạng.

Đại tá Tư Cang kể về cái Tết đáng nhớ ở địa đạo Củ Chi (Ảnh: Trịnh Nguyễn).
Một ngày cận Tết, quân Mỹ phát hiện tín hiệu vô tuyến phát ra từ khu vực địa đạo Phú Hòa Đông. Hàng chục xe công binh hạng nặng được điều tới, càn quét, sục sạo khắp vùng. Khi tiến đến căn cứ của Cụm H.63, địch dùng máy ủi ủi sập một đoạn hầm nơi đơn vị đang trú ẩn. Tình thế vô cùng hiểm nghèo. Ông Tư Cang cùng các chiến sĩ buộc phải ngồi bất động dưới lòng đất suốt nhiều giờ liền, không dám cựa quậy.
Thời gian trôi đi chậm chạp. Không khí dưới hầm cạn dần, nhiều chiến sĩ ngộp thở, có người nôn nóng muốn bật nắp hầm lao lên quyết chiến nhưng ông Tư Cang kiên quyết thuyết phục anh em chịu đựng bằng mọi giá. Mãi đến khoảng 18h, khi chắc chắn địch đã rút về bãi đóng quân dã chiến, ông mới ra lệnh mở nắp hầm. Từng người lần lượt trồi lên mặt đất tìm sinh khí.
Đêm 30 Tết, trời tối mịt. Gió xuân lành lạnh từ phía sông Sài Gòn thổi vào. Chỉ còn vài giờ nữa là giao thừa, nhưng xóm làng xung quanh vắng lặng. Từ các chốt đóng quân của lính Mỹ, thỉnh thoảng pháo sáng bắn vọt lên. Trên nắp địa đạo, ông Tư Cang cùng anh em chia nhau từng miếng gạo sấy khô khốc để lót dạ, lặng lẽ chờ thời khắc bước sang năm mới.
Chiến sĩ Năm Hải bông đùa: “Lát nữa mình vô ấp, ghé nhà bác Bảy xem có bánh trái gì không, chứ Tết mà ăn gạo sấy hoài, chán lắm”. Chiến sĩ Hai Quang cầm chai nước uống rồi nói: “Có không khí để thở mà sống là may rồi, ăn gì cũng được. Nhớ lại hồi chiều, suýt nữa là chết ngộp”. Thấy anh em trò chuyện, ông Tư Cang mỉm cười, nhẹ nhàng động viên: “Thôi, nhắc chi chuyện cũ. Giờ nghĩ xem đón Tết thế nào cho có tinh thần”.

Tết thời chiến khó khăn nhưng để lại trong ký ức Đại tá Tư Cang nhiều kỷ niệm xúc động (Ảnh: Trịnh Nguyễn).
Nhớ lại ký ức năm xưa, đôi mắt vị đại tá ánh lên niềm xúc động. Ông nói, Cụm H.63 bám trụ được ở Củ Chi suốt những năm tháng ác liệt là nhờ sự đùm bọc, chở che của bà con.
Những cái Tết thiếu thốn trong lòng đất, lương thực của chiến sĩ chỉ là gạo sấy, bột đậu xanh nghiền. Biết nơi đơn vị trú quân, bà con âm thầm tiếp tế thịt kho hột vịt, cá kho, rau dưa, gói ghém đèn pin, gạo… rồi tìm cách chuyển cho chiến sĩ đưa về địa đạo để anh em có cái Tết tươm tất hơn.
“Địa đạo là nơi khổ nhất. Chúng tôi sống được mười năm dưới lòng đất là nhờ lòng dân yêu thương, che chở”, ông Tư Cang nói.
Mùa xuân năm 1971, tại buổi liên hoan văn nghệ đón Tết do Phòng Chính trị Bộ Tham mưu Miền (B2) tổ chức ở căn cứ Tây Ninh, ông Tư Cang cùng các chiến sĩ Cụm H.63 ôn lại những năm tháng bám trụ Củ Chi. Trung đội trưởng Hồ Minh Đạo - một chiến sĩ gan dạ, lập nhiều chiến công - đọc bài “Tấu địa đạo”, khắc họa sức sống bền bỉ của cụm tình báo giữa vô số trận bom trút xuống “đất thép” Củ Chi.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, những câu thơ năm ấy vẫn còn in đậm trong ký ức ông Tư Cang:
“5 năm ròng, một sư đoàn Mỹ đánh vào cụm chúng tôi
B52, B57, tàu thủy, tàu bò, chất độc, hơi cay
Cỏ cây chết, đất đá trụi nhưng con người không lay chuyển
Người chiến sĩ thuở ấy nay là trung đội trưởng
Đường địa đạo xưa vẫn là căn cứ vững chắc của cụm tôi
Còn Sư đoàn 25 Mỹ nay đã đi rồi
Ôi đáng quý, đáng yêu và đáng ghi vào lịch sử
Những con đường địa đạo quê hương”.
Cái Tết ấm áp nhất cuộc đời
Ngày 30/4/1975, sau 28 năm đằng đẵng xa nhà, Đại tá Tư Cang được đoàn tụ với vợ con. Lúc ra đi, ông mới 19 tuổi, chưa một lần bế con gái trên tay. Ngày trở về, mái tóc đã điểm bạc, ông đón cháu ngoại 3 tuổi bập bẹ chạy ra gọi ông. Lần đầu tiên được sum vầy cùng vợ, con gái và cháu ngoại, nước mắt ông Tư Cang cứ tuôn trào.

Vợ, con gái và cháu ngoại lên thăm doanh trại khi ông Tư Cang giữ cương vị Chính ủy Trung đoàn 316 năm 1976 (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Hòa bình lập lại, vì một số thay đổi của tình hình mới, ông Tư Cang vẫn lên đường làm nhiệm vụ. Lúc này, ông giữ cương vị Chính ủy Trung đoàn 316 - đơn vị trấn giữ biên giới Bình Long (Bình Phước cũ).
Mùa xuân 1976, ông Tư Cang xúc động vô vàn khi lần đầu đón cái Tết trong không khí đất nước hòa bình, gia đình được đoàn tụ trọn vẹn. Ngày cuối năm, căn nhà vị đại tá rộn ràng niềm vui đón năm mới. Cánh cổng dán hoa mai, cháu ngoại cầm cây tò he tung tăng chạy nhảy ở sân nhà.
Từ biên giới ghé về nhà, ông Tư Cang gạt bỏ những mệt mỏi, lo toan, cùng vợ con, cháu ngoại ngồi ăn bữa cơm đón giao thừa. Bữa cơm có gà nấu xáo, thịt kho tàu, bánh tét, củ kiệu muối, những món ăn đậm vị quê hương mà bao năm xa nhà ông mong nhớ. Hạnh phúc đã đến thật sự nhưng ông cứ ngỡ như một giấc mơ.
Sáng mùng 1 Tết năm ấy, đúng 8h, ông Tư Cang lại khoác ba lô trở về đơn vị. Khoảnh khắc đoàn viên ngắn ngủi, nhưng với ông, đó là cái Tết ấm áp nhất cuộc đời.

Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan và Đại tá Tư Cang trong buổi giao lưu kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 2011 (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Sau chiến tranh biên giới Tây Nam, ông Tư Cang bị thương, trở thành thương binh hạng 2/4 và nghỉ hưu năm 1980. Những năm kinh tế còn khó khăn, ông làm tổ trưởng tổ bột giấy cho lực lượng thanh niên xung phong TPHCM. Về sau, ông an vui tuổi già bên vợ, đảm đương vài chức vụ không lương cho phường, kể cả chủ nhiệm Câu lạc bộ xây dựng gia đình hạnh phúc khu phố, chủ nhiệm Hội khuyến học khu phố.
Bà Ngọc Ảnh, vợ ông Tư Cang, vì tuổi cao sức yếu đã qua đời năm 2020. Năm năm qua, ông và con gái vẫn đều đặn thắp hương, mời bà Ngọc Ảnh chiếc bánh, quả dưa, như thời gia đình đủ đầy sum họp.
Ở tuổi 98, Đại tá Tư Cang vẫn có lịch làm việc dày đặc. Cuốn sổ nhỏ trên bàn ông luôn kín lịch hẹn và các hoạt động công tác xã hội. Tuổi già sức yếu, mang trên mình những vết thương chiến tranh, nhưng người chiến sĩ năm xưa vẫn say sưa gặp gỡ thế hệ trẻ để “truyền lửa” về ý chí kiên cường của ông cha, về cuộc chiến đấu anh hùng của dân tộc.

Đại tá Tư Cang bận rộn với các hoạt động công tác xã hội ở tuổi 98 (Ảnh: Bích Phương).
Mỗi dịp Tết đến, con gái ông ở lại TPHCM trông nom nhà cửa, còn ông trở về quê Long Phước để thăm họ hàng, lo hương khói tổ tiên. “Tôi về quê lúc nào cũng chuẩn bị sẵn vài tờ 50.000, 100.000 đồng để mừng tuổi bà con. Quê tôi còn nghèo lắm”, vị đại tá nói.
Chia sẻ về ước nguyện năm mới, ông Tư Cang cười xòa. Cả đời cống hiến cho đất nước, đi đến đâu cũng được đồng bào yêu thương, đồng đội một lòng sống chết vì nhau, với ông, như thế đã là trọn vẹn.
“Dịp đại lễ A50, tôi được Tổng Bí thư Tô Lâm tặng kỷ niệm chương, được Đảng bộ TPHCM và Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tặng bằng khen tri ân vì có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tôi không mong mỏi gì hơn khi tuổi già viên mãn, đất nước ngày một phát triển, tiến vào kỷ nguyên mới”, Đại tá Tư Cang chia sẻ.
Đại tá Tư Cang sinh năm 1928, tên thật Nguyễn Văn Tàu, quê ở Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ).
Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, đổi tên là Trần Văn Quang và làm Trung đội trưởng trinh sát kiêm chính trị viên đại đội đặc công, Sư đoàn 338.
Năm 1961, ông quay lại hoạt động tại chiến trường miền Nam. Từ năm 1962 đến năm 1972, ông làm Cụm trưởng Cụm tình báo H.63.
Sau ngày ký Hiệp định Paris, cuối năm 1973, ông được cử ra Hà Nội học khóa bổ túc Chính ủy sư đoàn ở Học viện Chính trị. Tháng 4/1975, ông được giao trở lại chiến trường miền Nam, nhận nhiệm vụ Chính ủy cánh Bắc Lữ đoàn 316.
Ông Tư Cang về hưu năm 1980, được xếp thương binh hạng 2/4. Ông được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân năm 2006.















