Nguyên Đại sứ Việt Nam nói về điều đặc biệt giúp “Singapore hóa rồng”
(Dân trí) - PGS.TS Dương Văn Quảng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Singapore cho rằng, điều làm nên sự phát triển thần kỳ ở quốc gia này chính là yếu tố: Sử dụng con người.
Năm 1998, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (khi đó là Bí thư Thành ủy TPHCM) sang thăm Singapore theo lời mời của ông Lý Quang Diệu.
Lúc này, ông Lý Quang Diệu đã thôi làm Thủ tướng và giữ chức Bộ trưởng cao cấp của chính phủ Singapore.
Khi ông Trương Tấn Sang đặt câu hỏi về bài học lớn nhất làm nên sự “kỳ diệu” của Singapore hôm nay là gì, ông Lý đã nói đại ý: 90% thành công của đất nước bắt nguồn từ sự học hỏi và áp dụng từ kinh nghiệm của những nước khác, chỉ có 10% là của Singapore.
Trong đó, nhân tố quyết định vẫn là con người với những nỗ lực bền bỉ cộng với học vấn và sự rèn luyện nghiêm túc.
Trong cuộc chia sẻ với phóng viên Dân trí, PGS.TS Dương Văn Quảng, Đại sứ Việt Nam tại Singapore nhiệm kỳ 2003-2007 cũng thừa nhận, điều giúp Singapore vươn mình từ quốc gia thuộc "thế giới thứ ba" trở thành "thế giới thứ nhất", từ một thương cảng nhỏ bé trở thành trung tâm kinh tế hàng đầu chính là yếu tố: Sử dụng con người.
Vì sao Singapore phát triển thần kỳ?
Bốn năm làm Đại sứ Việt Nam ở Singapore, điều ông ấn tượng nhất ở đất nước quốc đảo này là gì?
- Những năm sống và làm việc tại Singapore (từ tháng 9/2003 đến 7/2007) là trải nghiệm thú vị và độc đáo đối với tôi.
Tôi có cơ hội so sánh hai lối sống, hai nếp suy nghĩ, đặc biệt hai phương thức điều hành đất nước của người Singapore và người Âu - Mỹ.
Kết luận đáng nhớ nhất mà tôi rút ra là người Singapore biết kết hợp tài tình hai quan niệm về tinh hoa của hai nền văn hóa Á và Âu trong công cuộc đào tạo, sử dụng con người và phương thức xây dựng đất nước mình.
Khái niệm mà tôi cảm thấy ấn tượng nhất chính là “nguồn nhân lực sáng tạo”, đặc biệt khi tôi đến dự một buổi thuyết trình của Thủ tướng Lý Hiển Long tại Đại học Quốc gia Singapore (NUS) về tinh hoa hay hiền tài (elite) của Singapore.
Ông ấy đã khẳng định, Singapore biết phát huy cả cách phát hiện và sử dụng hiền tài của người Hoa trước đây và của người Mỹ ngày nay.

PGS.TS Dương Văn Quảng, Đại sứ Việt Nam tại Singapore nhiệm kỳ 2003-2007 (Ảnh: Hà Trang).
Thứ hai, bài học về thu nạp và sử dụng hiền tài ở Singapore đáng để suy ngẫm. Triết lý bao trùm là nguyên tắc toàn tài (meritocracy). Nền tảng của toàn tài là mọi người, không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, giới tính và thành phần xuất thân, đều có cơ hội như nhau để phát huy tài năng, năng lực và sở trường. Nền tảng này vừa là đặc thù, vừa là lựa chọn duy nhất của Singapore.
Thứ ba, “nguyên tắc đòi hỏi cái tối ưu ở mỗi người và từng người làm việc, cống hiến hết khả năng của mình”, được đãi ngộ xứng đáng, tương ứng với đóng góp của bản thân cho đất nước.
Hiền tài của Singapore, trước hết, là sản phẩm của chính nền giáo dục và đào tạo nước này. Thêm vào đó, một số sinh viên tốt nghiệp phổ thông loại giỏi được nhận học bổng đi đào tạo ở nước ngoài theo chuyên ngành mà mình ưa thích. Sau khi tốt nghiệp, họ có thể về nước cống hiến hay ở lại nước ngoài làm việc, học tiếp ở cấp cao học, tiến sĩ.
Ngoài những yếu tố như ông nói, còn điều gì giúp tạo nên sự phát triển mà nhiều chuyên gia đánh giá là thần kỳ, ngoạn mục ở Singapore, thưa ông?
- Sự phát triển thần kỳ của Singapore không phải tự nhiên mà có, mà được tạo nên từ nhiều yếu tố khác nhau. Trong đó, giáo dục là một trong những nền tảng quan trọng nhất góp phần làm nên “thương hiệu Singapore”.
Khi tuyên bố độc lập năm 1965, Singapore là một xã hội đa sắc tộc với ba cộng đồng chính gồm: Người Hoa, người Ấn Độ và người gốc Malaysia. Mỗi cộng đồng có nền văn hóa, ngôn ngữ và hệ thống giáo dục riêng. Con em của từng cộng đồng chủ yếu theo học trong hệ thống trường học của chính cộng đồng mình.

Singapore đã đạt được những bước phát triển thần kỳ (Ảnh: Seng Chye Teo/Getty Images).
Trong bối cảnh đó, cố Thủ tướng Lý Quang Diệu đã đưa ra một quyết sách mang tính bước ngoặt: Lựa chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ chính trong giáo dục và công việc.
Tiếng mẹ đẻ được giảng dạy như một ngoại ngữ trong trường học. Chính quyết định này đã tạo ra sự thống nhất trong hệ thống giáo dục, đồng thời hình thành một ngôn ngữ chung để gắn kết toàn bộ xã hội Singapore.
Thay vì để khác biệt sắc tộc và văn hóa trở thành nguyên nhân dẫn tới chia rẽ, Singapore lựa chọn cách xây dựng một cộng đồng đa văn hóa cùng tồn tại trong hòa bình, tôn trọng và hỗ trợ lẫn nhau.
Bên cạnh giáo dục, thành công của Singapore còn đến từ mô hình phát triển kinh tế rất đặc biệt. Nhà nước không trực tiếp điều hành doanh nghiệp mà tách bạch rõ giữa chức năng quản lý vốn và hoạt động kinh doanh.
Chính phủ đóng vai trò cổ đông, đồng thời thuê các CEO và chuyên gia giỏi từ thị trường toàn cầu để điều hành doanh nghiệp theo cơ chế cạnh tranh. Các tập đoàn có vốn nhà nước như Singapore Airlines hay Singtel không được hưởng đặc quyền bảo hộ mà phải cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường như các doanh nghiệp khác.
Một yếu tố quan trọng khác là cách Singapore xây dựng đội ngũ công chức. Ông Lý Quang Diệu luôn yêu cầu bộ máy nhà nước phải trong sạch, đặt trên nền tảng của tinh thần phục vụ, trách nhiệm và đạo lý.
Singapore trả mức lương rất cao cho công chức nhằm hạn chế tối đa cám dỗ tham nhũng, đồng thời bảo đảm những người có năng lực không cảm thấy thiệt thòi về kinh tế khi lựa chọn cống hiến cho khu vực công. Song song với đó, quốc gia này cũng nổi tiếng với thái độ kiên quyết và không khoan nhượng trong xử lý tham nhũng.
Có thể nói, bộ máy công chức của Singapore được xếp vào hạng trong sạch nhất thế giới.

Singapore ngày nay đã trở thành trung tâm tài chính hàng đầu (Ảnh: Pixabay).
Biểu tượng của sự hợp tác Việt Nam - Singapore
Ông có kỷ niệm gì đáng nhớ trong nhiệm kỳ làm Đại sứ Việt Nam tại Singapore?
- Tôi khởi đầu nhiệm kỳ bằng việc thực thi các hoạt động thuộc “Sáng kiến chung về hợp tác đầu tư”, được thông qua trong chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Goh Chok Tong tháng 3/2003. Sáng kiến này với mục tiêu “xúc tiến và thúc đẩy đầu tư trực tiếp từ nước thứ ba vào Việt Nam và Singapore, nâng cao sức cạnh tranh và lợi thế của mỗi nước”.
Khi đó, hai nước chia sẻ quyết tâm đẩy nhanh quá trình liên kết ASEAN, đồng thời duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trước những vấn đề nóng của khu vực và quốc tế.
Một dấu mốc khác trong quan hệ song phương mà tôi có cơ hội tham gia đóng góp là quyết định kết nối hai nền kinh tế trong chuyến thăm chính thức Singapore của cố Thủ tướng Phan Văn Khải vào tháng 3/2004.
Thú thật rằng, khi Thủ tướng Goh Chok Tong đưa ra ý tưởng này, phía Việt Nam thật sự bất ngờ. Với cương vị là Đại sứ, tôi phải là người đầu tiên bày tỏ chính kiến và tôi đã phát biểu ủng hộ. Chính lòng tin đã thuyết phục Việt Nam chấp nhận và thúc đẩy hai nước xác định những lĩnh vực cần và có thể kết nối.
Sau hơn một năm đàm phán, ngày 5/12/2005, Hiệp định khung kết nối Việt Nam - Singapore được ký kết tại Singapore, bao gồm sáu lĩnh vực kết nối: đầu tư; thương mại và dịch vụ; công nghệ thông tin - truyền thông; tài chính; giao thông và giáo dục - đào tạo.
Theo đánh giá của hai bên, Hiệp định khung “mang ý nghĩa lịch sử, củng cố hơn nữa quan hệ giữa hai nước”. Văn kiện tạo điều kiện cho Việt Nam đẩy nhanh quá trình hội nhập và duy trì sự phát triển bền vững với mức tăng trưởng cao. Hiệp định không chỉ có ý nghĩa đối với Việt Nam và Singapore, mà còn với cả khu vực.
Trong buổi lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP) vào tháng 5/2006, Thủ tướng hai nước đều khẳng định, VSIP tại Bình Dương là hình mẫu của hợp tác lâu dài, cùng có lợi.
Hiệp định Khung kết nối Việt Nam - Singapore đã tạo điều kiện thành lập 14 VSIP và tạo ra nhiều hình mẫu thành công khác trong hợp tác giữa hai nước.
Đến nay, VSIP đã trở thành một biểu tượng tiêu biểu của hợp tác kinh tế song phương. Mạng lưới VSIP đã mở rộng lên 22 khu công nghiệp trên khắp Việt Nam và dự kiến tăng lên 30 khu vào cuối năm 2026. Theo số liệu từ VSIP, đến nay các khu công nghiệp trong hệ thống đã thu hút hơn 15 tỷ USD đầu tư từ hơn 30 nước và vùng lãnh thổ.
Không chỉ đóng vai trò là trung tâm thu hút FDI, các khu công nghiệp này còn góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cấp năng lực công nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và hỗ trợ tiến trình công nghiệp hóa tại nhiều địa phương của Việt Nam.
Trải qua hơn nửa thế kỷ thiết lập quan hệ ngoại giao và hơn một thập kỷ xây dựng quan hệ Đối tác Chiến lược, nhìn lại quan hệ Việt Nam - Singapore, theo ông đâu là những dấu mốc đáng nhớ?
- Ngay sau khi Hiệp định Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký tháng 1/1973, Singapore là một trong những quốc gia đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
Nhưng có lẽ dấu mốc quan trọng nhất, theo tôi là thời điểm hai nước quyết định hướng tới tương lai và mở ra một giai đoạn hợp tác mới.
Năm 1990, nhân dịp tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos (Thuỵ Sĩ), cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và ông Lý Quang Diệu đã có cuộc gặp mang tính bước ngoặt. Trong cuộc gặp này, hai nhà lãnh đạo đã thống nhất thúc đẩy quan hệ song phương trên tinh thần cùng hướng đến tương lai. Cũng tại đây, ông Lý Quang Diệu đã nhận lời mời thăm Việt Nam.
Kể từ năm 1991 đến nay, quan hệ Việt Nam - Singapore luôn “thuận buồm xuôi gió”. Hai nước không có vướng mắc gì về chính trị, lãnh hải hay đụng chạm lợi ích trong quan hệ với các nước khác.
Cả hai đều tập trung tìm ra những sáng kiến mới nhằm thúc đẩy quan hệ về mọi mặt: Chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, đào tạo và khoa học, quản lý Nhà nước.
Chuyến thăm tới Singapore của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, Việt Nam và Singapore nổi lên như hai mắt xích có tính bổ trợ cao trong chuỗi cung ứng khu vực. Theo ông, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Singapore của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này có ý nghĩa như thế nào trong việc thúc đẩy quan hệ song phương?
- Chuyến thăm Singapore lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ tạo thêm xung lực cho giai đoạn phát triển tiếp theo của quan hệ hai nước.
Nếu giai đoạn trước, hợp tác với Singapore chủ yếu tập trung vào đầu tư, thương mại và các khu công nghiệp Việt Nam - Singapore, thì nay quan hệ song phương đã bước sang một tầng nấc mới: Cùng tham gia định hình các chuỗi giá trị mới của khu vực.
Tôi hy vọng chuyến thăm sẽ mở ra những cơ hội hợp tác mới, tiếp tục nâng tầm quan hệ hai nước, đồng thời làm sâu sắc hơn nội hàm của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân tại sân bay Changi, Singapore (Ảnh: Thống Nhất – TTXVN).
Trong đó, tôi cho rằng xu hướng hợp tác Việt Nam - Singapore hiện không chỉ dừng ở thương mại hàng hóa truyền thống mà đang mở rộng sang các lĩnh vực phát triển xanh, đổi mới sáng tạo và chuỗi cung ứng chất lượng cao.
Khoa học - công nghệ cũng sẽ là một trong những lĩnh vực giàu tiềm năng hợp tác trong thời gian tới. Dù có diện tích nhỏ, Singapore đã rất thành công trong việc xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại, thu hút các nhà khoa học hàng đầu thế giới bằng chính sách đãi ngộ cạnh tranh để nghiên cứu, sáng tạo và phát triển các sản phẩm phục vụ đất nước. Singapore nhiều năm qua đã hỗ trợ Việt Nam đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý và nhân lực chất lượng cao thông qua nhiều chương trình hợp tác thiết thực.
Đây sẽ là nền tảng quan trọng để quan hệ hai nước tiếp tục phát triển thực chất, hiệu quả và bền vững hơn trong giai đoạn tới.
Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ có bài phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-La - diễn đàn an ninh hàng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Theo ông, điều này có ý nghĩa như thế nào?
- Đối thoại Shangri-La là diễn đàn an ninh hàng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương do Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) tổ chức thường niên tại Singapore. Diễn đàn quy tụ nhiều nhà lãnh đạo, bộ trưởng quốc phòng, học giả và chuyên gia chiến lược hàng đầu thế giới.
Chính vì thế, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm được mời phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-La là một sự kiện mang tính lịch sử. Đây là lần đầu tiên một nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam đảm nhiệm vai trò này tại diễn đàn an ninh hàng đầu châu Á.
Điều này cũng phản ánh sự quan tâm của các nước đối với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển của Việt Nam.
Tôi rất mong chờ nội dung bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Việt Nam hiện được nhìn nhận là một nền kinh tế hội nhập sâu rộng nhưng vẫn giữ vững tự chủ chiến lược. Một quốc gia đang phát triển năng động, có khát vọng vươn lên mạnh mẽ đồng thời là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế và khu vực.
Đây sẽ là dịp để Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò, vị thế cũng như những đóng góp ngày càng quan trọng với hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực cũng như thế giới.
Xin chân thành cảm ơn ông về cuộc chia sẻ!










