Bằng xuất sắc nhiều lên: Điểm số đang ghi nhận điều gì?
Tháng 8/2026, Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức hai đợt trao bằng cử nhân cho tổng cộng 5.724 sinh viên. Trong đó, 51,2% tốt nghiệp loại xuất sắc, 26,3% đạt loại giỏi. Đáng chú ý, có 17 sinh viên đạt điểm trung bình tích lũy trong quá trình học tập (GPA) tuyệt đối 4.0/4.0, số lượng cao nhất kể từ khi trường áp dụng thang điểm 4 vào năm 2012.
Tại Đại học Bách khoa Hà Nội, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc tăng từ 1,7% trong năm học 2020–2021 lên gần 8,8% năm 2025. Trong khi đó, tại Đại học Y Hà Nội, trong tổng số 970 sinh viên tốt nghiệp năm 2026, không có trường hợp nào đạt loại xuất sắc.
Như vậy, chênh lệch tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc thể hiện rõ giữa các cơ sở giáo dục đại học. Khoảng cách ấy cho thấy không thể đọc tỷ lệ điểm cao như một thước đo chung cho mọi trường, mọi ngành.

Sinh viên tốt nghiệp (Ảnh minh họa: CV)
Ngày 16/10, trong văn bản hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2026–2027 đối với giáo dục đại học (Công văn 7314/BGDĐT-GDĐH), Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các trường rà soát quy định kiểm tra, đánh giá và xếp loại tốt nghiệp; phân tích phân bố điểm theo ngành, khóa học và hình thức đào tạo; đối chiếu với mức đạt chuẩn đầu ra và phản hồi của doanh nghiệp để phát hiện, xử lý lạm phát điểm số, và báo cáo trước khi kết thúc năm học. Bộ đồng thời yêu cầu không áp đặt tỷ lệ điểm hay tỷ lệ tốt nghiệp giỏi, xuất sắc, không hạ chuẩn để tăng thành tích.
Cách đặt vấn đề này là đúng: Không ép tỷ lệ, nhưng buộc giải trình. Mục tiêu không phải là có ít sinh viên điểm cao hơn, mà là điểm số phản ánh đúng năng lực và nỗ lực của người học. Muốn vậy, chúng ta cần nhìn rộng hơn bảng điểm. Điểm số chỉ đáng tin khi những gì nhà trường hứa về đào tạo được thực hiện nhất quán, từ lớp học đến cách bố trí giảng viên và cách ghi nhận thành tích.
Hai câu hỏi cần tách bạch
Tỷ lệ điểm cao đặt ra hai câu hỏi khác nhau. Thứ nhất, từng điểm số có đúng với năng lực người học hay không. Thứ hai, xếp loại tốt nghiệp có còn giúp phân biệt các mức năng lực hay không.
Một cơ sở giáo dục đại học có thể trả lời tốt câu hỏi thứ nhất mà vẫn vướng ở câu hỏi thứ hai. Khi sinh viên tốt nghiệp loại giỏi hoặc xuất sắc trở thành đa số, tấm bằng giỏi và xuất sắc khó còn là tín hiệu rõ ràng với nhà tuyển dụng, với việc xét học bổng và với chính người học.
Khống chế tỷ lệ không giải quyết được điều này. Nếu một lớp thật sự đạt chuẩn cao, hạ điểm cho đủ cơ cấu cũng là làm sai lệch kết quả. Lời giải nằm ở ba việc: Chuẩn của mức xuất sắc phải được mô tả rõ và đủ cao; nhiệm vụ học tập phải đủ khó để người học giỏi có chỗ thể hiện sự vượt trội; và kết quả phải đi kèm minh chứng như sản phẩm học tập, khóa luận, dự án… để có thể kiểm chứng được khi cần thiết.
Lời hứa đào tạo được kiểm chứng trong từng học phần
Các cơ sở giáo dục đại học thường cam kết đào tạo người học có năng lực, tư duy độc lập, khả năng làm việc thực tế và tinh thần trách nhiệm. Cam kết ấy chỉ có nghĩa khi sinh viên có trải nghiệm chân thực trong từng học phần: Mục tiêu rõ, yêu cầu cụ thể, tiêu chí chấm công bố trước, có cơ hội thực hành và nhận được phản hồi đủ để tiến bộ.
Phương pháp tự học là yêu cầu cần thiết ở đại học, song không đồng nghĩa với việc để người học tự xoay xở. Giảng viên cần thiết kế lộ trình, giới thiệu học liệu, giao nhiệm vụ trước và sau giờ học, tổ chức thảo luận hoặc thực hành để sinh viên biết mình đã hiểu đến đâu. Khi giờ học chỉ truyền đạt một chiều và tiêu chí không rõ, điểm số, dù cao hay thấp, không cho người học biết mình đang đứng ở đâu.
Tiêu chí thiếu rõ ràng còn làm lệch cách người học nhìn điểm. Có sinh viên coi điểm 8 là thấp vì bạn cùng lớp được cao hơn, nhưng không chỉ ra được căn cứ nào trong bài làm để đề nghị mức điểm khác. Phản ứng ấy dễ hiểu khi mức cao nhất đã trở nên phổ biến, và nó cho thấy điểm số đang được so với nhau nhiều hơn là so với chuẩn.
Cũng có trường hợp sinh viên không chuyên cần ở một số học phần nhưng cuối khóa vẫn được vinh danh ở thứ hạng cao. Điều đó có thể hợp lệ, vì danh hiệu tính trên toàn chương trình và mỗi điểm số dựa trên nhiều tiêu chí. Nhưng nếu nhà trường không giải thích được danh hiệu ấy ghi nhận điều gì, người học sẽ khó tin vào nó.
Những áp lực đẩy điểm lên
Văn hóa của một nhà trường không nằm trong khẩu hiệu mà trong điều nhà trường biểu dương và chỉ số lãnh đạo quan tâm. Nếu tỷ lệ giỏi, xuất sắc và số danh hiệu được nhắc đến thường xuyên hơn năng lực hình thành sau đào tạo, cả giảng viên lẫn sinh viên đều hiểu rằng thành công là có kết quả đẹp.
Áp lực trực tiếp nhất có thể rơi vào giảng viên. Họ được yêu cầu giữ chuẩn, nhưng ở nhiều nơi lại được đánh giá một phần qua phản hồi của sinh viên cuối học phần và phải tự xử lý khiếu nại điểm. Trong điều kiện đó, chấm rộng tay là lựa chọn ít rủi ro nhất, vì hiếm ai khiếu nại một điểm cao. Khi giữ chuẩn không được ghi nhận, còn chấm chặt lại kéo theo phiền toái, điểm sẽ nhích dần lên mà không cần ai chỉ đạo.
Cách bố trí đội ngũ cũng tác động đến điểm số theo một lối ít được chú ý. Giảng viên dạy hoặc chấm ngoài chuyên môn sâu của mình khó thiết kế bài tập có chiều sâu và khó phân biệt một bài làm khá với một bài xuất sắc. Thiếu căn cứ để phân biệt, người chấm dễ chọn cách an toàn là cho điểm cao đồng đều. Ngược lại, một khóa luận tốt có thể bị đánh giá thấp nếu hội đồng không có người am hiểu lĩnh vực. Cả hai chiều đều kéo điểm số ra xa năng lực thật.
Vì vậy, chất lượng đội ngũ không nên chỉ tính bằng số lượng giảng viên hay học vị. Điều cần xem là chuyên môn của giảng viên có khớp với học phần được giao, nhiệm vụ hướng dẫn và lĩnh vực tham gia đánh giá hay không, và họ có điều kiện bồi dưỡng, cập nhật kiến thức hay không.
Giữ chuẩn bằng cơ chế, không bằng chỉ tiêu
Nếu việc rà soát cho thấy điểm số chưa phản ánh đúng năng lực, siết điểm bằng mệnh lệnh chỉ thay một sai lệch này bằng một sai lệch khác. Bền vững hơn là những cơ chế khiến việc giữ chuẩn trở thành việc bình thường.
Ở cấp học phần, mục tiêu, yêu cầu và tiêu chí chấm cần được công bố từ đầu kỳ. Với học phần có nhiều lớp, các giảng viên nên dùng chung tiêu chí, cùng chấm thử một số bài mẫu để thống nhất mức điểm, và chấm chéo bài thi cuối kỳ giữa các lớp. Với khóa luận và nghiên cứu khoa học, hội đồng phải có người đúng chuyên môn, và người phản biện cần độc lập với người hướng dẫn.
Ở cấp khoa và trường, mỗi học kỳ nên xem lại phân bố điểm của từng học phần, từng lớp. Chỗ nào lệch bất thường thì xem lại đề thi và cách chấm, không kéo điểm xuống một cách cơ học. Giảng viên cần được đánh giá bằng chất lượng dạy học và sự tiến bộ của người học, thay vì chủ yếu bằng những chỉ số dễ đếm. Quy trình phúc khảo phải minh bạch, đúng hạn và dựa trên tiêu chí đã công bố; khi đó nó bảo vệ cả sinh viên lẫn giảng viên giữ chuẩn.
Sinh viên cũng có phần trách nhiệm: Tự đánh giá bài làm theo tiêu chí, tôn trọng liêm chính học thuật, và khi đề nghị xem lại điểm thì nêu căn cứ từ bài làm chứ không từ điểm của người khác.
Cơ quan quản lý có thể hỗ trợ bằng một khung bảo đảm chất lượng yêu cầu các trường giải trình mối liên hệ giữa sứ mệnh, chuẩn đầu ra, đội ngũ, trải nghiệm dạy học và kết quả đánh giá. Việc theo dõi cần kết hợp nhiều dữ liệu: Phân bố điểm theo ngành và khóa, mức độ đạt chuẩn đầu ra, ý kiến sinh viên về tính rõ ràng và công bằng của đánh giá, chất lượng sản phẩm học tập, phản hồi từ nơi tuyển dụng. Những dữ liệu này nên giúp trường nhận diện vấn đề và cải thiện, không biến thành chỉ tiêu tỷ lệ chung cho mọi ngành.
Sự quan tâm của xã hội về tỷ lệ bằng giỏi, bằng xuất sắc cao là lời nhắc để nhà trường kiểm tra lại lời hứa của mình với sinh viên. Khi lời hứa ấy được thực hiện nhất quán trong những trải nghiệm hằng ngày của người học, điểm số mới có cơ sở để phản ánh năng lực và nỗ lực thực chất.
Tác giả: Bà Lê Thơm là giảng viên Khoa Quản lý Phát triển xã hội - Học viện Hành chính và Quản trị công, chuyên nghiên cứu về trải nghiệm thương hiệu và quan hệ công chúng.
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!









