Những tấm lòng xoa dịu nỗi đau da cam

(Dân trí) - Công trình nghiên cứu hàng chục năm ròng rã của những nhà khoa học tâm huyết đã giúp những người dân vùng nhiễm chất độc da cam dần thoát khỏi ác mộng dị tật nhiều thế hệ. Trong nhóm nghiên cứu có người đã ra đi vì bệnh tật trước khi được vinh danh.

Mới đây, Công trình "Nghiên cứu mô hình tư vấn di truyền cho các gia đình chịu ảnh hưởng của chất độc hóa học trong chiến tranh" đã được nhận Giải thưởng Nhà nước về khoa học y - dược. Đây là công trình là thành quả sau 11 năm tâm huyết của nhóm 7 nhà khoa học thuộc ĐH Y Hà Nội.

 Khi được vinh danh, đã có người không chờ đợi được, đó là GS. TS Trịnh Văn Bảo, được biết ông qua đời năm 2006 do bệnh ung thư. PGS. TS Phan Thị Hoan, thành viên nhóm nghiên cứu bồi hồi nhớ lại, 11 năm trước, cố GS. TS Trịnh Văn Bảo và các đồng sự xây dựng đề cương triển khai đề tài này như một đề tài cấp Nhà nước (cùng với PGS. TS Trần Thị Thanh Hương, PGS. TS Nguyễn Thị Phượng, TS Hoàng Thị Ngọc Lan, PGS. TS Trần Đức Phấn, PGS. TS Nguyễn Ngọc Hùng) do đau xót khi nhìn thấy những nạn nhân chất độc da cam thế hệ thứ hai thứ ba bị dị tật hành hạ.

Mục tiêu của công trình là xây dựng mô hình tư vấn di truyền góp phần làm giảm bớt sự ra đời của trẻ khuyết tật, thực hiện ưu sinh học cho cộng đồng để góp phần đánh giá tác hại lâu dài của chất độc hóa học/dioxin đến con người và thiên nhiên Việt Nam tại những vùng bị phơi nhiễm chất độc hóa học, từ đó góp phần tìm ra các biện pháp để tư vấn di truyền, giảm bớt gánh nặng do dị tật bẩm sinh gây ra.

Công trình nghiên cứu đã được trao giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ
Công trình nghiên cứu đã được trao giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ

Công trình đã chọn huyện Phù Cát (tỉnh Bình Định) và quận Thanh Khê (thành phố Đà Nẵng) làm địa điểm nghiên cứu. Đây là hai nơi có phơi nhiễm với chất độc hóa học chiến tranh. Huyện Phù Cát trong thời gian chiến tranh bị rải chất độc hóa học với mật độ rải cao, nhất là ở vùng Hội Sơn và vùng Núi Bà, đồng thời lại có sân bay Phù Cát là nơi có kho chứa chất độc hóa học.

“Suốt thời gian nghiên cứu, chúng tôi đã bao lần rơi nước mắt khi thấy những người cha, người mẹ mang con đến khám, đời sống vật chất đã khó khăn, còn phải mang thêm nỗi đau nặng trĩu vì có những đứa con dị tật, TS Hoan Bùi ngùi nhớ lại. Đều là giảng viên nên ngoài công việc bộ môn, các thầy, cô tham gia nghiên cứu cũng thường xuyên phải di chuyển giữa ba địa điểm thực hiện đề tài, mỗi chuyến đi từ 7- 10 ngày. Nhưng điều an ủi là họ đã xác định được tỷ lệ dị tật liên quan đến hóa chất trong chiến tranh ở hai vùng bị ảnh hưởng nặng nề là sân bay Đà Nẵng, Biên Hòa cao hơn hẳn so với vùng đối chứng Thái Bình.

Đến nay những thành quả của công trình đã được ghi nhận. Đó sự ra đời và áp dụng và hoàn thiện đồng bộ nhiều kỹ thuật xét nghiệm, chẩn đoán trước sinh và sau sinh để phát hiện sớm, phát hiện chính xác một số bất thường thai sản, thai nhi bị dị dạng nhằm can thiệp sớm, giảm tỷ lệ sinh trẻ bị khuyết tật, thực hiện ưu sinh học cho cộng đồng.

Các kỹ thuật đã được áp dụng, hoàn thiện là kỹ thuật siêu âm thai, kỹ thuật xét nghiệm sàng lọc trước sinh bệnh tật di truyền, kỹ thuật chẩn đoán trước sinh bằng tế bào ối, tế bào tua rau, kỹ thuật chẩn đoán bệnh tật di truyền sau sinh. Trong số các kỹ thuật này có những kỹ thuật lần đầu tiên áp dụng ở Việt Nam như: Test sàng lọc bộ ba để phát hiện các thai phụ có nguy cơ sinh con bị tật của ống thần kinh hoặc tật do rối loạn số lượng nhiễm sắc thể; hoàn chỉnh quy trình nuôi cấy tế bào ối, tế bào tua rau thai; dùng môi trường đặc hiệu để đoạn nhiễm sắc thể X dễ gẫy ở các thành viên gia đình chậm phát triển tâm thần có tính gia đình; bước đầu áp dụng kỹ thuật FISH để phát hiện nhanh thai nhi bị Down.

Hiện nay, những kỹ thuật này đã được áp dụng rông rãi không chỉ giúp những người dân có nguy cơ cao ở khu vực bị nhiễm chất độc da cam mà đã được triển khai rộng rãi ở nhiều địa phương, giúp cho những gia đình có đột biến nhiễm sắc thể hoặc bất thường nào đó ảnh hưởng đến sinh sản trong đó có những trường hợp đột biến nhiễm sắc thể.

 

Phạm Thanh