Chữ Thị, chữ Văn trong tên người Việt đẹp hay xấu?

(Dân trí) - Chữ Thị, Văn trong tên người Việt trở thành tâm điểm tranh luận trên mạng xã hội. Có người cho rằng đó là dấu vết lỗi thời, có người phản biện coi việc chê bai là biểu hiện thiếu hiểu biết lịch sử.

Tranh luận về chữ Thị, chữ Văn trong tên người Việt

Câu chuyện về chữ Thị, chữ Văn trong tên người Việt thời gian gần đây trở thành chủ đề gây tranh luận trên mạng xã hội. Một bộ phận cho rằng việc mang những chữ này trong tên thể hiện sự lỗi thời, thậm chí gây mặc cảm cho người sử dụng, nhất là trong bối cảnh hội nhập và làm việc ở môi trường quốc tế.

Ở chiều ngược lại, nhiều ý kiến phản biện cho rằng việc chê bai chữ Thị, chữ Văn là biểu hiện của sự thiếu hiểu biết về lịch sử tên gọi và bản sắc văn hóa Việt.

Chữ Thị, chữ Văn trong tên người Việt đẹp hay xấu? - 1

Tên gọi của phụ nữ Việt Nam hiện nay không phải ai cũng có chữ Thị (Ảnh minh họa: Nguyễn Hà Nam).

“Mỗi lần giới thiệu tên đầy đủ có chữ Thị, tôi thấy mình già đi vài chục tuổi. Đi làm trong môi trường quốc tế, cái tên như vậy thật sự không thuận lợi”, một cô gái làm việc trong lĩnh vực marketing tại TPHCM chia sẻ.

Một người dùng Facebook bình luận: “Tên Văn nghe như mặc định cho đàn ông thời phong kiến, gắn với Nho giáo và vai trò giới. Thế hệ sau không muốn giữ là điều dễ hiểu”.

Quan điểm này cũng được một nam sinh viên đồng tình: “Chữ Thị không xấu, nhưng nó từng gắn với tư duy phân biệt giới. Ngày xưa đàn ông là Văn, phụ nữ là Thị. Bây giờ xã hội khác rồi, bỏ là hợp lý”.

Tuy nhiên, không ít ý kiến cho rằng vấn đề không nằm ở bản thân chữ Thị hay chữ Văn, mà ở cảm giác bị áp đặt. “Nếu người mang tên không thích mà vẫn phải giữ vì truyền thống, thì điều đó có đáng không?”, một cô gái có chữ Thị trong tên nêu quan điểm.

Một người làm trong lĩnh vực sáng tạo cũng chia sẻ: “Không phải tự nhiên mà thế hệ trẻ bỏ chữ Thị trong tên. Đó là sự thay đổi về thẩm mỹ, giống như thời trang. Không thể bắt người trẻ mang cái tên mà họ thấy không thuộc về mình”.

Ở chiều ngược lại, nhiều ý kiến phản bác việc quy chụp chữ Thị, chữ Văn là lạc hậu. “Mẹ tôi là Nguyễn Thị Vân, bà tôi là Nguyễn Thị Mai. Cả hai đều là những người phụ nữ mạnh mẽ, giỏi giang. Tôi không hiểu vì sao bây giờ người ta lại coi Thị là xấu”, một tài khoản mạng xã hội viết.

Một ý kiến khác cho rằng: “Văn là chữ đẹp, mang nghĩa học vấn, tri thức. Không thích thì có thể đổi tên, nhưng đừng quy chụp nó là lạc hậu”.

Từ những tranh luận trái chiều này, câu hỏi đặt ra không chỉ là chữ Thị, chữ Văn trong tên người Việt đẹp hay xấu, mà sâu xa hơn là cách xã hội hiện đại đang nhìn nhận truyền thống tên gọi của mình ra sao.

Nguồn gốc chữ Thị, chữ Văn trong tên gọi

Trao đổi với phóng viên Dân trí, nhà nghiên cứu Trần Quang Đức, tác giả cuốn sách Họ và tên, cho biết, chữ Thị (氏) trong tiếng Hán vốn có nghĩa là họ. Vì vậy, khi gọi “Trần Thị”, “Nguyễn Thị”, về mặt ngữ nghĩa đơn thuần chỉ có nghĩa là người họ Trần, người họ Nguyễn.

Chữ Thị, chữ Văn trong tên người Việt đẹp hay xấu? - 2

Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức (Ảnh: Minh Anh).

Theo ông Đức, trong quan niệm của người xưa, chữ Thị không hề chỉ dành riêng cho phụ nữ. “Ngay cả đàn ông cũng có thể dùng chữ Thị trong tên. Danh sĩ Cao Bá Quát từng tự xưng là Cao thị, tức là người họ Cao. Trong nhiều văn bản hành chính, công vụ thời xưa, người ta thường ký là Lê Thị, Nguyễn Thị, đơn giản để chỉ người thuộc họ đó”, ông nói.

Thậm chí, trong sử liệu, vua Mạc Mậu Hợp (1560-1593), vị vua thứ năm của nhà Mạc, cũng thường được ghi là Mạc Thị Mậu Hợp, trong đó “Mạc Thị” chỉ có nghĩa là người thuộc họ Mạc.

Theo nhà nghiên cứu này, việc chữ Thị dần mang sắc thái nữ tính xuất phát từ ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa. Trong xã hội phong kiến, phụ nữ không được để lộ tên riêng ra ngoài phạm vi gia đình. Do đó, người ta thường chỉ gọi phụ nữ bằng họ, tức là “Lý Thị”, “Trần Thị”, “Nguyễn Thị”. Phải đến khi làm lễ hỏi cưới, nhà trai mới thực hiện lệ “vấn danh” để biết tên thật của cô gái phục vụ các nghi thức hôn lễ.

Tại Trung Quốc, xu hướng phụ nữ giấu tên được thực hiện rất triệt để. Tuy nhiên, theo khảo cứu của ông Trần Quang Đức, tại Việt Nam, truyền thống này không tuyệt đối như vậy. Qua các văn bia từ năm 798, trong số 134 nhân vật nữ được ghi nhận, có tới 100 người sử dụng trực tiếp kết cấu “họ + Thị + tên”, cho thấy phụ nữ Việt Nam từ sớm đã có mức độ hiện diện tên riêng cao hơn so với phương Bắc.

Tương tự chữ Thị, chữ đệm Văn trở nên phổ biến từ thời Lê Trung Hưng (1533-1789), giai đoạn Nho giáo được đề cao. Những tên gọi mang tính “Văn trị”, thể hiện quan niệm “Nam Văn, Nữ Thị” dần được định hình.

Theo ông Trần Quang Đức, chữ Văn không chỉ là tên đệm, mà còn mang bản chất của tư tưởng Nho giáo, đề cao học vấn, văn hóa và trật tự xã hội. Trong bối cảnh chính trị nhiều biến động của thời Lê Trung Hưng, các dòng họ có xu hướng gắn kết chặt chẽ để bảo vệ, che chở lẫn nhau.

“Vì vậy, xuất hiện hiện tượng cả một dòng tộc cùng dùng một chữ đệm, như Nguyễn Văn, Trần Văn, hay Trần Đình, Nguyễn Đình. Chỉ cần nhìn tên là biết người đó thuộc cùng một dòng họ”, ông Đức nói.

Có nên bỏ Thị, Văn khỏi tên gọi hiện đại?

Theo nhà nghiên cứu Trần Quang Đức, tên họ luôn phản ánh những biến động chính trị, xã hội.

“Truyền thống đặt tên có chữ Thị kéo dài cho đến những năm 1980. Ở nhiều vùng quê, cách đặt tên này vẫn được bảo lưu, trong khi tại các thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM, tên phụ nữ dần chuyển sang xu hướng đặt tên hai chữ hoặc những tên mỹ miều hơn.

Điều này tạo ra cảm giác phân hóa: Ở nông thôn hay các đô thị nhỏ, tên có chữ Thị phổ biến hơn, còn ở thành phố lớn, tên không có chữ Thị thường được xem là hiện đại, đẹp hơn”, ông Đức phân tích.

Việc ngày nay nhiều người không thích chữ Thị, chữ Văn vì cảm thấy “quê, cũ” cần được đặt trong bối cảnh vận động của xã hội hiện đại.

Khi trật tự phong kiến suy yếu, tư tưởng bình đẳng được đề cao, con người có nhu cầu “trang sức” cho tên gọi của mình. Những yếu tố kéo dài quá lâu như Thị, Văn dễ tạo cảm giác nhàm chán, lạc hậu, từ đó thúc đẩy xu hướng tìm kiếm những tên gọi mới mẻ hơn.

“Tuy nhiên, nếu nhìn dưới góc độ lịch sử, đó chỉ là một giai đoạn vận động tự nhiên”, ông Đức nhấn mạnh.

Ông cũng cho rằng, trong nhiều trường hợp, sự không hài lòng với tên gọi xuất phát từ cảm giác thiếu tự tin bên trong. “Khi giá trị nội tại chưa đủ mạnh, người ta dễ phóng chiếu sự không hài lòng ra bên ngoài, từ tên gọi, ngoại hình đến hoàn cảnh sống”, ông phân tích.

Để minh họa, ông kể câu chuyện về công chúa Trang Tĩnh có vết sẹo trên trán. Dù mọi người khuyên cô trang điểm để che đi, cô từ chối và để nguyên vết sẹo, chấp nhận nó là một phần con người mình. Mọi người khen tính cách cô giống hệt cái tên do vua cha Minh Mạng ban cho.

“Văn hay Thị đâu phải là vết sẹo. Đó là sản phẩm của cả một quá trình lịch sử, của một nền văn hóa. Khi đủ tự trọng, tự yêu thương và có nội tâm lành mạnh, người ta hoàn toàn có thể chấp nhận và tự hào về cái tên của mình”, ông nói.

Theo ông Trần Quang Đức, việc hiểu đúng về họ tên sẽ giúp mỗi người nhìn tên gọi như một phần của lịch sử dân tộc, thay vì coi đó là điều cũ kỹ cần chối bỏ.

Chữ Thị, chữ Văn trong tên người Việt đẹp hay xấu? - 3

TS Phạm Văn Ánh, Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Ảnh: Minh Anh).

Về vấn đề này, TS Phạm Văn Ánh, Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nêu ý kiến: "Ngoài những yếu tố bắt nguồn từ lịch sử, chữ Văn và chữ Thị đã dần trở thành những tín hiệu để nhận biết về phương diện giới tính qua tên gọi. Tuy vậy, cách đặt tên không nhất định là con trai thì phải có chữ Văn, con gái phải có chữ Thị thì mới có thể phân biệt được giới tính.

Ví dụ như một người con gái nào đó họ Nguyễn mà đặt tên là Nguyễn Phương Hoa thì đương nhiên cũng đủ cho người ta đoán định rằng người đó là nữ. Hoặc nếu đặt tên là Nguyễn Quyết Thắng thì nó cũng đủ để cho người ta đoán định và tin rằng cái tên đó là tên của con trai".

Lý giải về xu hướng kém ưa chuộng chữ Văn và chữ Thị trong xã hội hiện đại, TS Phạm Văn Ánh nhận định đây là hệ quả tất yếu khi quan điểm thẩm mỹ thay đổi theo thời đại.

Theo ông, cấu trúc "Nam Văn, Nữ Thị" từng là chuẩn mực tồn tại lâu năm trong quá khứ, nhưng đến nay, nó dần bị coi là "đơn điệu và sáo mòn theo những khuôn thước quá cũ". Thay vì rập khuôn, TS Ánh khuyến khích một tư duy định danh cởi mở và giàu tính cá nhân hơn.