Sự khác biệt của lăng mộ vị vua thứ 6 triều Nguyễn giữa rừng thông
(Dân trí) - So với lăng mộ có quy mô lớn, bề thế của các vị hoàng đế Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, nơi vua Hiệp Hòa - vị vua thứ 6 triều Nguyễn yên nghỉ - khá đơn giản, nép mình giữa rừng thông.

Lăng vua Hiệp Hòa nằm trên đường Tam Thai, gần núi Ngũ Phong, thuộc phường An Cựu, thành phố Huế, đã được công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh vào năm 2016. Ban đầu, thi hài vua được chôn ở một vị trí khác. Sau đó, con cháu cải táng, đưa về vị trí hiện tại với mộ phần rộng chừng 30m2, có một mái che bằng ngói, 2 bậc thang bước lên, ở giữa là tấm bia xi măng nhỏ đề tên tuổi nhà vua bằng chữ Quốc ngữ.
Năm 2013, lăng mộ vua Hiệp Hòa trải qua đợt trùng tu lớn do nhóm thân hữu người Huế ở TPHCM và Đà Nẵng đứng ra vận động quyên góp thông qua Phòng Văn Lãng Quận Vương (nhánh con cháu vị cựu hoàng đế). Hiện công trình có đầy đủ các hạng mục đảm bảo tiêu chuẩn lăng mộ của một bậc hoàng đế, như mộ phần, nhà bia, sân bia, đường dẫn vào huyệt mộ, trụ biểu, bình phong, hình tượng linh vật trang trí thể hiện quyền lực...

Bia đá chỉ dẫn vào khu lăng mộ vua Hiệp Hòa đặt bên đường Tam Thai.

Đường dẫn vào lăng vua Hiệp Hòa là một lối mòn giữa rừng thông, chưa được đầu tư bê tông kiên cố, thường xuyên bị xói lở khi xảy ra mưa lớn.

Mộ phần của vua Hiệp Hòa có hình chữ nhật, giật 4 tầng cấp, xung quanh được bao bọc bởi một vòng tường thành bằng đá cao khoảng 2m. Khác với khu lăng mộ uy nghi, đồ sộ của các vị vua triều Nguyễn khác như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, nơi vua Hiệp Hòa yên nghỉ khá khiêm tốn, nép mình giữa khu rừng thông nhiều năm tuổi ở phía Tây Nam thành phố Huế. Là một công trình kiến trúc mới nên lăng mộ của vua Hiệp Hòa không nằm trong danh mục quần thể di tích cố đô Huế.

Lối vào tẩm mộ vua Hiệp Hòa được làm cổng vòm, bên trên trang trí nhiều hình linh vật, hoa lá. Hai bên cổng có đặt cặp rồng bằng đá trắng, tượng trưng cho quyền lực của nhà vua.

Trước mộ phần nhà vua có bình phong án ngữ, được khảm sành sứ tinh xảo.

Ở vị trí trung tâm mặt trước bức bình phong có một chữ thọ lớn được đắp nổi bằng các mảnh sành sứ.

Bình phong sau mộ gắn liền với lớp thành bao quanh, phía trên là biểu tượng truyền thống hai con rồng đối xứng nhau, ở giữa có một viên ngọc quý (thường được gọi là "lưỡng long tranh châu") được khảm sành sứ.

Tấm bia cũ bằng xi măng đã được thay thế bằng bia đá trắng, mặt trước đề tên tuổi chủ nhân khu lăng mộ bằng chữ Hán. Mặt sau tấm bia có ghi bốn câu thơ cũng bằng chữ Hán do hoàng đế Tự Đức sáng tác, nội dung nói về tính cách chăm chỉ học hành của vua Hiệp Hòa khi chưa lên ngôi.

Hai trụ bê tông mang tính biểu tượng, dấu hiệu nhận biết công trình (trụ biểu) cao khoảng 4m, xung quanh ốp gạch men Bát Tràng phía trước lối vào lăng vua Hiệp Hòa. So với các lăng vua triều Nguyễn khác, hai trụ biểu này nhỏ hơn và gần với khu vực huyệt mộ. Trước khu lăng mộ vua Hiệp Hòa cũng không có hồ nước để làm yếu tố minh đường, vốn đóng vai trò quan trọng về mặt phong thủy đối với các lăng mộ vua chúa triều Nguyễn.

Vị trí lăng vua Hiệp Hòa trên bản đồ (Ảnh: Google Maps).
Theo tư liệu lịch sử, vua Hiệp Hòa tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Dật (1847-1883), con thứ 29 của vua Thiệu Trị. Năm 1865 Hồng Dật được phong Văn Lãng Công, đến năm 1879 được phong là Lãng Quốc Công.
Tháng 6/1883, sau khi vua Dục Đức qua đời, được ý chỉ của Từ Dụ Hoàng Thái hậu, triều đình Huế cử một phái đoàn ra Kim Long rước Lãng Quốc Công vào Đại nội để chuẩn bị làm lễ đăng quang.
Ngày 30/7/1883, Hồng Dật lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Hiệp Hòa.
Do có ý thân Pháp, hoàng đế Hiệp Hòa lên ngôi chưa được bao lâu thì bị triều đình Huế phế bỏ và buộc uống thuốc độc tự vẫn vào ngày 30/10 năm Quý Mùi (29/11/1883).
Năm 1891, dưới thời Thành Thái, ông được truy phong là Văn Lãng Quận Vương.










