Vì sao Mỹ khó mở lại eo biển Hormuz?
(Dân trí) - Hàng trăm tàu chở dầu đang neo đậu ở hai đầu eo biển Hormuz, nơi Iran đã phong tỏa trong nhiều tuần qua để đáp trả các cuộc tấn công của Mỹ và Israel.

Tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz (Ảnh: Sana).
Eo biển Hormuz đang trở thành mặt trận then chốt trong cuộc chiến giữa Mỹ và Israel với Iran. Để đáp trả đòn tấn công của Mỹ - Israel, Tehran phong tỏa gần như hoàn toàn tuyến đường biển này, khiến hoạt động vận chuyển dầu khí bị đình trệ, đẩy giá nhiên liệu khắp thế giới tăng vọt.
Khi giá dầu tăng vọt làm rung chuyển nền kinh tế toàn cầu, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố sẽ mở lại tuyến đường vận chuyển này “bằng cách này hay cách khác”.
Washington đang cân nhắc nhiều lựa chọn để khôi phục tự do đi lại qua Hormuz, coi đây là mục tiêu quan trọng để hướng đến chấm dứt cuộc chiến đã kéo dài hơn 3 tuần qua.
Lầu Năm Góc đã tuyên bố điều thêm khí tài và lực lượng đổ bộ đến khu vực, đe dọa Iran cũng như kêu gọi đồng minh triển khai chiến hạm hộ tống tàu dầu qua eo biển. Tuy nhiên, những phương án này đều tiềm ẩn nhiều nguy cơ và không có gì đảm bảo giúp kết thúc xung đột.
Các chuyên gia cảnh báo, nếu không đạt được thỏa thuận với Iran hoặc một cuộc chiếm giữ kéo dài và nguy hiểm, sẽ rất khó để khôi phục hoàn toàn giao thông trên eo biển này.
Các chuyên gia đã chỉ ra nhiều lý do để giải thích vì sao khó mở lại eo biển Hormuz như vậy.
Địa lý chiến lược
Eo biển Hormuz hẹp và nông, buộc các tàu thuyền phải di chuyển sát bờ biển núi non hiểm trở của Iran, một kiểu địa hình thuận lợi cho các chiến thuật chiến tranh phi đối xứng, trong đó Iran sử dụng những loại vũ khí nhỏ, phân tán rộng rãi và khiến đối phương khó tiêu diệt hoàn toàn.
"Iran đã suy nghĩ rất nhiều về cách tận dụng địa lý để có lợi cho họ", giáo sư Caitlin Talmadge tại Viện Công nghệ Massachusetts, chuyên nghiên cứu vấn đề an ninh vùng Vịnh, cho biết.
Vũ khí có thể tương đối nhỏ, nhưng điều đó cho phép lực lượng Iran giấu chúng trong vách đá, hang động và đường hầm, sau đó triển khai ở cự ly gần dọc theo bờ biển.
"Vị trí địa lý kề sát của Iran và chiều rộng của eo biển là điều khiến việc này càng trở nên khó khăn", chuyên gia Jennifer Parker, cựu sĩ quan hải quân đang làm việc tại trường An ninh Quốc gia thuộc Đại học Quốc gia Australia, cho biết.
Và một khi tàu nào đó bị tấn công khi lưu thông qua tuyến đường biển này thì không có nhiều thời gian để hành động.
“Các tàu chỉ có rất ít thời gian để hành động gì đó ngay khi phát hiện bị tấn công”, bà Parker nói. “Để có thể phản ứng và bắn hạ tên lửa hoặc máy bay không người lái tấn công đó, thì vấn đề tùy thuộc vào tốc độ của nó, có thể chỉ là vài phút", bà nhấn mạnh.
Mối đe doạ từ thủy lôi

Vị trí eo biển Hormuz (Đồ họa: Guardian).
Tổng thống Trump đã đưa ra những thông điệp trái chiều về cách hy vọng mở lại eo biển, bao gồm cả gợi ý hôm 23/3 rằng có thể cùng kiểm soát eo biển với nhà Lãnh đạo Tối cao Iran.
Nhưng hầu hết các lựa chọn mà Mỹ đang xem xét đều liên quan đến quân sự. Bước đầu tiên hướng tới việc mở eo biển bằng vũ lực sẽ là tìm cách tước bỏ năng lực tấn công tàu thuyền của phía Iran. Theo Kpler, một công ty dữ liệu hàng hải, kể từ khi chiến tranh bùng nổ hôm 28/2, đã có tới 17 tàu bị tấn công.
Cho đến nay, hàng ngàn cuộc tấn công của Mỹ và Israel vào các địa điểm quân sự của Iran vẫn chưa thể ngăn chặn mối đe dọa này. Cả Washington và Tel Aviv có thể không thể tìm và phá hủy mọi nơi cất giữ hoặc triển khai vũ khí của Iran.
“Tehran có nhiều vị trí có thể đặt các trận địa tên lửa", ông Mark F. Cancian, Đại tá Thủy quân lục chiến đã nghỉ hưu kiêm cố vấn cấp cao tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, cho biết.
Theo ông, vì các trận địa tên lửa có tính di động, nên rất khó để tìm và nhắm mục tiêu vào chúng. Nói về việc ông Trump đã kêu gọi nỗ lực hộ tống bằng hải quân cho tàu chở dầu thương mại đi qua eo biển, chuyên gia Cancian cho rằng "đó sẽ là một chiến dịch quân sự lớn".
“Nó sẽ bao gồm những tàu bảo vệ các tàu chở dầu. Sẽ có tàu quét thủy lôi để xử lý bất kỳ nguy cơ nào như vậy. Còn phải có máy bay trên không để đánh chặn bất kỳ máy bay không người lái nào và tấn công bất kỳ trận địa tên lửa nào trên bờ", chuyên gia này nêu rõ.
Việc điều tàu chiến đến eo biển này để chống lại các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái và tên lửa của Iran cũng mang đến những rủi ro riêng.
“Hệ thống phòng thủ của tàu khu trục thực sự được thiết kế cho những nhiệm vụ khác với cuộc giao tranh tầm gần ở eo biển", ông Eugene Gholz, phó giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Notre Dame cho biết và nói thêm, “mọi bộ phận của tàu khu trục đều nhạy cảm với nguy cơ bị tấn công".
Nhưng có lẽ thủy lôi mới là mối đe dọa lớn nhất bởi vũ khí bất đối xứng giá rẻ này đủ sức làm gián đoạn tuyến dầu mỏ huyết mạch của thế giới. Theo một quan chức Mỹ được tiếp cận thông tin tình báo, Iran đã bắt đầu sử dụng các tàu nhỏ hơn để thực hiện hoạt động rải thủy lôi ở eo biển Hormuz từ ngày 12/3.
“Không hải quân nào muốn đưa các tàu chiến chủ lực của mình vào một tuyến đường biển có khả năng hoặc thực sự có thủy lôi", ông Jonathan Schroden, chuyên gia về chiến tranh bất quy tắc tại CNA, một viện nghiên cứu quốc phòng phi đảng phái cho biết.
Thủy lôi là một trong số những vũ khí đơn giản nhất nhưng có sức tàn phá khủng khiếp nhất mà Hải quân Mỹ từng đối mặt, làm hư hại nhiều tàu chiến hơn bất kỳ phương thức tấn công nào khác kể từ Thế chiến II, theo báo cáo của Viện Hải quân Mỹ cách đây vài năm.
Chúng về cơ bản là những khối kim loại được nhồi thuốc nổ, nằm im lìm dưới làn nước biển, chờ đợi "con mồi" đi ngang qua để kích nổ. Chúng được thiết kế để neo lơ lửng hoặc chìm dưới đáy biển, hay trôi dạt theo dòng hải lưu, sử dụng cơ chế chạm nổ hoặc những loại ngòi nổ phức tạp hơn như cảm ứng từ trường, âm thanh, áp suất.
Điểm hẹp nhất trên eo biển Hormuz chỉ rộng gần 34km, luồng hàng hải để tàu đi qua càng hẹp hơn, khiến nguy cơ từ thủy lôi trên biển trở nên nghiêm trọng. Tàu thuyền qua đây gần như không có nhiều không gian để cơ động và khả năng va phải những thiết bị nổ này cao hơn.
Đặc biệt, hoạt động rà phá thủy lôi có thể mất nhiều tuần và có thể đặt thủy thủ Mỹ vào tình thế nguy hiểm trực tiếp.

Việc Iran phong tỏa eo biển Hormuz khiến hải quân Mỹ gặp thách thức lớn trong việc "khơi thông" huyết mạch dầu mỏ (Ảnh: Getty Images).
Rủi ro trên mặt đất
Thủy quân lục chiến Mỹ đang đổ dồn về khu vực, và các chuyên gia cho rằng Lầu Năm Góc có thể sử dụng lực lượng này để tiến hành những hoạt động trên bộ nhằm thực hiện các cuộc đột kích hoặc thiết lập hệ thống phòng không cho đoàn tàu vận tải.
Với quy mô lực lượng lục quân của Iran, giới chuyên gia cho rằng, thủy quân lục chiến Mỹ có thể sẽ giới hạn các cuộc xâm nhập vào một số đảo trong eo biển Hormuz đồng thời tránh nỗ lực chiếm lãnh thổ trên đất liền Iran.
Ngay cả như vậy, nguy cơ tổn thất của Mỹ có thể khiến ông Trump từ bỏ lựa chọn đó.
“Nếu lực lượng mặt đất bị hạ gục hoặc bắt giữ, điều đó sẽ thay đổi hoàn toàn cục diện", bà Parker, cựu sĩ quan hải quân, cho biết.
Giới hạn của thành công
Ngay cả với một chiến dịch quân sự lớn, chỉ cần một đòn tấn công cũng đủ để làm suy giảm lòng tin. Hiện tại, hầu hết nhà khai thác tàu chở dầu không mạo hiểm đi qua eo biển. Có gần 500 tàu chở dầu ở phía tây eo biển, và hầu hết trong số chúng không di chuyển, theo S&P Global Market Intelligence.
Để những tàu này có thể vận chuyển dầu trở lại, các chủ tàu và công ty bảo hiểm tàu cần có niềm tin về việc sẽ được lực lượng hộ tống đảm bảo an toàn đi qua eo biển Hormuz.
Tuy nhiên, vấn đề ngay cả khi có một chiến dịch hộ tống phòng thủ quy mô lớn, các lực lượng quân sự chỉ có thể bảo vệ được một vài tàu cùng lúc. Vào đầu tháng 2, trước khi chiến tranh bùng nổ, khoảng 80 tàu chở dầu và khí đốt đã đi qua eo biển Hormuz mỗi ngày.
“Điều quan trọng là phải trấn an các công ty vận tải biển và thị trường bảo hiểm rằng rủi ro là rất thấp và họ sẽ được lợi nhiều hơn khi vận chuyển qua eo biển này", ông Kevin Rowlands, một chuyên gia hải quân tại Viện Nghiên cứu Quân sự Hoàng gia Anh cho biết.
Ngoài ra, việc tổ chức chiến dịch hộ tống quy mô lớn và phức tạp cũng có thể khiến Mỹ hao phí lực lượng quân sự. Các đoàn tàu hộ tống như vậy sẽ buộc Washington chuyển hướng các đơn vị quân sự quan trọng khỏi chiến dịch không kích chung với Israel và cả chiến lược bảo vệ những lực lượng khác trong khu vực.
Với thực tế là Iran đã tấn công các tàu ở cả Vùng Vịnh và vịnh Oman, thì những phương tiện này vẫn cần được bảo vệ sau khi đi qua eo biển, một nỗ lực dài hơn đối với các phương tiện quân sự.
“Tôi nghĩ chừng nào Iran vẫn còn cảnh báo mạnh mẽ ở eo biển Hormuz, thì giao thông hàng hải sẽ vẫn bị ảnh hưởng. Để mọi thứ thực sự trở lại bình thường, cần phải có một giải pháp ngoại giao và chính trị", chuyên gia Talmadge nhận định.















