Tâm điểm
Hoàng Anh Đức

Từ bách phân vị, nghĩ về kỳ thi tốt nghiệp THPT

Mùa thi tốt nghiệp 2025 đã khép lại, nhưng công tác tuyển sinh đại học vẫn đang trong giai đoạn nước rút. Khác với những năm trước, năm nay điểm chuẩn sẽ được quy đổi tương đương giữa các tổ hợp, phương thức xét tuyển. Cụ thể, một ngành học có thể xét tuyển bằng nhiều tổ hợp. Điểm chênh lệch giữa các tổ hợp sẽ được điều chỉnh theo “bách phân vị”.

Nhiều vị phụ huynh và học sinh bối rối với khái niệm “bách phân vị”. Quả thực không dễ để giải thích đầy đủ khái niệm này một cách ngắn gọn. Về cơ bản, đây là đại lượng thống kê biểu thị vị trí điểm của thí sinh trong tổng số thí sinh dự thi. Ví dụ: bách phân vị thứ 95, nghĩa là cao hơn 95% thí sinh còn lại, chỉ kém 5% đạt điểm cao hơn

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố bảng bách phân vị tổng điểm cho 7 tổ hợp phổ biến (A00, A01, B00, C00, D01, C01, D07) theo điểm thi THPT năm 2025. Các trường đại học có thể dùng bách phân vị để quy đổi điểm giữa các tổ hợp xét tuyển và các phương thức thi khác (học bạ, thi năng lực) tương ứng theo cùng mức phân vị.

Ví dụ, căn cứ vào bảng quy đổi này thì 28,75 điểm tổ hợp A00 sẽ tương đương 28,25 điểm B00, 29 điểm C00 và 27,5 điểm D01. Qua đó, các cơ sở đào tạo tham khảo, thực hiện việc quy đổi của đơn vị mình.

Việc sử dụng “bách phân vị” đang nhận về nhiều ý kiến khác nhau. Nhiều chuyên gia đánh giá là hữu ích, đảm bảo được tính công bằng và minh bạch. Tuy nhiên, không ít phụ huynh cho rằng khó hiểu và một số trường đại học còn tỏ ra lúng túng trong việc áp dụng.

Từ bách phân vị, nghĩ về kỳ thi tốt nghiệp THPT - 1

Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT năm 2025 (Ảnh: Hải Long).

Trước đó, quanh đề thi tốt nghiệp THPT năm 2025 cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Theo khẳng định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đề thi tốt nghiệp THPT năm nay gia tăng các câu hỏi có tính phân hóa, nội dung không vượt quá yêu cầu cần đạt của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được ban hành năm 2018.

Điều thú vị là đề toán và tiếng Anh vốn được đánh giá khó và khiến nhiều thí sinh lo lắng nhưng phổ điểm lại “đẹp bất ngờ”, phân tán đều về hai phía.

Mặc dù phổ điểm đẹp, có tính phân loại cao nhưng đâu đó vẫn có những tiếc nuối. Ví dụ, theo thống kê của phóng viên Dân trí, trong số 777 thí sinh bị điểm liệt (từ 1 trở xuống) ở môn toán trên cả nước tại kỳ thi tốt nghiệp THPT 2025, có tới 339 thí sinh có tổng điểm 3 môn thi còn lại đạt từ 15 đến 24,5 điểm. Như vậy, những thí sinh này chẳng những phải khép lại giấc mơ đại học mà cũng không được công nhận tốt nghiệp.

Còn đối với môn tiếng Anh, theo TS ngôn ngữ học giáo dục Nguyễn Thanh Thúy, Trường Đại học Hà Nội, phổ điểm tiếng Anh kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay đẹp nhưng là đẹp theo nghĩa phân loại được thí sinh và kết quả này chỉ phù hợp cho mục đích tuyển sinh đại học chứ không phải mục đích thi tốt nghiệp.

Hiện nay, kỳ thi tốt nghiệp THPT 2025 phải gánh vác cùng lúc ba mục đích: đánh giá kết quả học tập (cần sát chương trình); xét công nhận tốt nghiệp (cần công bằng, dễ tiếp cận); và cung cấp dữ liệu cho tuyển sinh đại học (cần phân hóa cao).

Để cân đối 3 mục đích là một đòi hỏi rất cao. Sau tất cả, thiết nghĩ, chúng ta cần trở lại một câu hỏi căn bản: Tốt nghiệp để làm gì?

Tốt nghiệp, theo ý nghĩa nguyên bản, là sự ghi nhận rằng một người đã hoàn thành chương trình giáo dục của một bậc học. Theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, mục tiêu của giáo dục phổ thông là “giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp”.

Theo Luật Giáo dục 2019, “giáo dục trung học phổ thông nhằm trang bị kiến thức công dân; bảo đảm cho học sinh củng cố, phát triển kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp; có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Như vậy, “tốt nghiệp PTTH” chính là cột mốc đánh dấu sự chuyển giao từ giai đoạn này sang giai đoạn khác của cuộc đời với “học vấn phổ thông và có hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp”, không phải là cuộc thi để chứng minh ai xuất sắc nhất. Tốt nghiệp phải thể hiện rằng học sinh đã sẵn sàng: sẵn sàng để bước vào đại học nếu có năng lực và nguyện vọng, sẵn sàng để học nghề nếu đó là con đường phù hợp, hay sẵn sàng để tham gia vào đời sống xã hội với vai trò của một công dân trưởng thành.

Nếu kỳ thi tốt nghiệp buộc phải đáp ứng nhiều mục đích, bao gồm “có độ phân hóa cao” để phục vụ yêu cầu xét tuyển đại học thì đề thi sẽ rất khó với nhiều học sinh. Ở đây không chỉ học sinh trung bình có nguy cơ không tốt nghiệp được dù đã hoàn thành chương trình học, mà đề thi còn khó với ngay cả một số học sinh khá, giỏi. Xu hướng “đề phân hóa” sẽ khiến nhiều học sinh phải phụ thuộc vào luyện đề, học thêm - điều mà chúng ta không mong muốn.

Tất nhiên, sau kỳ thi, có những ý kiến cho rằng đề khó thì “khó chung”, học sinh giỏi phải “chấp nhận thử thách”. Một số người nhấn mạnh đây là cách để “phân loại trình độ, không phải phát đồng loạt bằng tốt nghiệp”. Nhưng một lần nữa, chúng ta hãy quay trở lại mục tiêu của chương trình phổ thông và câu hỏi “tốt nghiệp để làm gì?”.

Những em tốt nghiệp PTTH và muốn vào đại học sẽ phù hợp với đề thi có yêu cầu học thuật cao, cạnh tranh, nội dung thực sự chuyên sâu theo định hướng học tập. Còn những em chỉ có nhu cầu tốt nghiệp phổ thông - để đi học nghề hoặc tham gia ngay vào thị trường lao động, thì các em chỉ cần “học vấn phổ thông và có hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp”. Với những em này, rõ ràng đề thi có tính phân hóa cao là quá sức; nên chăng các em được xét tốt nghiệp khi hoàn thành chương trình, thông qua quá trình đánh giá liên tục và định kỳ trong 3 năm PTTH? Tất nhiên đây là đề xuất để các cấp có thẩm quyền xem xét, nghiên cứu, còn hiện tại chúng ta vẫn cần tuân thủ các quy định hiện hành, bao gồm Luật Giáo dục và thông tư hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Thử nhìn ra thế giới, nhiều nước có nền giáo dục phát triển tách biệt rõ ràng giữa thi tốt nghiệp và thi đại học. Ở Anh, học sinh thi GCSE (kỳ thi dành cho học sinh trung học) để tốt nghiệp phổ thông và thi kì thi A-Level (kỳ thi trung học phổ thông bậc cao) riêng biệt để vào đại học. Ở Hàn Quốc, việc hoàn thành chương trình học là đủ để học sinh tốt nghiệp phổ thông, còn kỳ thi Suneung (kỳ thi đánh giá năng lực học tập vào đại học) chỉ dành cho những em muốn vào đại học. Mỗi kỳ thi phục vụ một mục đích cụ thể và được thiết kế phù hợp với mục đích đó.

Dĩ nhiên mỗi nước có đặc thù khác nhau nên chúng ta không so sánh hay sao chép, điều quan trọng là xác định mô hình phù hợp dựa trên đúc kết kinh nghiệm thế giới. Theo mô hình của nhà giáo dục học John Biggs, một hệ thống giáo dục hiệu quả cần sự kết nối chặt chẽ giữa ba trụ cột: mục tiêu học tập (thể hiện qua chương trình), quá trình dạy và học, và kiểm tra đánh giá. Khi ba trụ cột này đồng bộ, học sinh sẽ có được trải nghiệm học tập nhất quán và có ý nghĩa. Trong quá trình cải cách giáo dục, việc cải tổ đồng thời cả ba trụ cột này là điều cốt yếu. Nếu quá trình cải cách diễn ra không đồng bộ, sẽ tạo ra những điểm nghẽn, đứt gãy nghiêm trọng.

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 - chương trình mà thế hệ học sinh vừa tốt nghiệp là lứa đầu tiên học trọn vẹn bậc trung học phổ thông - được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực. Chương trình tổng thể khuyến khích tư duy tích hợp, tự học và giải quyết vấn đề, với tinh thần “trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương, nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục”.

Một chương trình giáo dục bền vững cần có cơ chế đánh giá và cải tiến liên tục. Việc phát triển một chương trình học không dừng lại sau khi bản chương trình đầu tiên được đưa vào thực hiện, mà là một quá trình thiết kế và cải tiến liên tục.

Tư duy bám theo sách giáo khoa và các kỳ thi cố định chính là tư duy “mỗi năm lên một lớp”, và cần xem xét lại. Nên chăng, chúng ta nghiên cứu chuyển sang tư duy “phát triển chương trình”, nơi sự học tập được cá nhân hóa và đánh giá một cách phù hợp với năng lực cũng như nguyện vọng của từng học sinh.

Tác giả: TS Hoàng Anh Đức là nghiên cứu viên tại Đại học RMIT Việt Nam, Tổng giám đốc hệ thống giáo dục Sky-Line. Ông vừa được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học trẻ toàn cầu (GYA) nhiệm kỳ 2025-2030.

Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!