Gieo chữ nơi phên giậu
Có một hình ảnh mà tôi luôn nhớ mỗi khi nghĩ về giáo dục vùng cao: một con đường đất quanh co, mùa nắng bụi đỏ, mùa mưa trơn trượt, và trên con đường ấy là những đứa trẻ bé nhỏ đeo cặp sách đi học từ khi sương còn phủ kín núi.
Ở đồng bằng, quãng đường đến trường đôi khi chỉ là vài phút xe máy hay vài bước chân. Nhưng ở nhiều nơi miền núi, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là khu vực biên giới, hành trình đến lớp lại là một cuộc vượt dốc, băng suối, đi qua những bất trắc của thời tiết, địa hình và cả sự mong manh của điều kiện sống. Có trường, có thầy, nhưng khoảng cách quá xa; có lớp học, nhưng học sinh quá thưa; có khát vọng đến trường, nhưng đường đến tri thức lại xa cách, thậm chí rủi ro. Bởi thế, khi 121 trường nội trú liên cấp được đồng loạt khởi công trong sáng 19/3, tôi không chỉ nhìn đó như một sự kiện đầu tư xây dựng, mà như một sự trả lời rất rõ ràng của Đảng và Nhà nước đối với một câu hỏi đã day dứt từ lâu: làm thế nào để những đứa trẻ ở nơi heo hút nhất của Tổ quốc cũng được học tập trong điều kiện an toàn, đầy đủ và bình đẳng hơn.
Điều đáng nói là sự quan tâm lần này không dừng ở những lời động viên hay những khẩu hiệu đẹp. Nó được hiện thực hóa bằng chủ trương, bằng nguồn lực, bằng tiến độ, bằng thiết kế chính sách, và bằng sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị. Bộ Chính trị khóa XIII đã thống nhất chủ trương đầu tư xây dựng 248 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại 248 xã biên giới đất liền, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện chính sách dân tộc, nhằm nâng cao dân trí, chất lượng nguồn nhân lực, tạo nguồn cán bộ người dân tộc, người địa phương, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào, đồng thời góp phần củng cố quốc phòng, an ninh.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tới dự lễ khởi công tại điểm cầu chính, Trường phổ thông nội trú tiểu học và trung học cơ sở Đồng Đăng, xã Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn - Ảnh: VGP/Nhật Bắc.
Từ một chủ trương lớn, chỉ trong thời gian ngắn, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã triển khai với quyết tâm rất cao; ngày 9/11/2025 đã đồng loạt khởi công 108 trường, và đến ngày 31/1, trường phổ thông nội trú liên cấp Si Pa Phìn ở Điện Biên đã được khánh thành, đưa vào sử dụng. Sáng 19/3, 121 trường tiếp theo tiếp tục được khởi công tại 17 tỉnh, thành phố, với tổng nhu cầu vốn địa phương đề xuất khoảng 30.000 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương dự kiến hỗ trợ khoảng 28.000 tỷ đồng. Chỉ riêng những con số ấy đã cho thấy đây là một sự đầu tư có trọng tâm, có quy mô, và trên hết là có trách nhiệm.
Tôi đặc biệt xúc động trước phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại lễ khánh thành trường nội trú liên cấp Si Pa Phìn hồi cuối tháng 1 năm nay: “Đảng ta luôn xác định giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Với các tỉnh biên giới, vùng sâu, vùng xa, giáo dục không chỉ là nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực mà còn là giải pháp căn cơ, lâu dài, giữ vững chủ quyền quốc gia từ gốc rễ, đó là con người”. Câu nói ấy chạm đến chiều sâu tư tưởng phát triển của một quốc gia. Bởi chủ quyền không chỉ được giữ bằng đường biên, cột mốc, đồn trạm hay lực lượng canh giữ. Chủ quyền còn được giữ bằng những cộng đồng dân cư bền bỉ bám đất, bám làng, bằng những thế hệ con em được học hành, trưởng thành và quay trở lại vun đắp chính quê hương mình. Khi một đứa trẻ vùng biên được học trong ngôi trường an toàn hơn, có điều kiện học tập tốt hơn, thì thực chất chúng ta đang bảo vệ biên cương theo cách sâu xa và bền vững nhất.
Ở đây, điều đáng quý là chủ trương xây dựng trường nội trú liên cấp đã đi thẳng vào những khó khăn rất thật của vùng cao. Không phải ai cũng hiểu rằng ở nhiều địa bàn miền núi, bài toán giáo dục không chỉ nằm ở thiếu trường lớp, mà nằm ở sự phân tán dân cư, ở địa hình hiểm trở, ở quãng đường đến trường quá xa và nguy hiểm, ở quy mô học sinh quá ít để tổ chức dạy học theo mô hình thông thường, và cả ở gánh nặng chi phí sinh hoạt đối với nhiều gia đình.
Vì thế, mô hình nội trú liên cấp chính là một cách tiếp cận phù hợp với thực tiễn hơn: tập trung được nguồn lực, giải bài toán địa lý và khoảng cách, tổ chức được việc dạy học đi cùng chăm sóc, nuôi dưỡng, sinh hoạt, đồng thời bảo đảm an toàn cho học sinh.
Từ góc nhìn văn hóa, tôi cho rằng câu chuyện này còn mang một ý nghĩa sâu hơn nữa. Giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là việc dạy chữ, dạy toán, dạy khoa học tự nhiên. Đó còn là không gian nuôi dưỡng bản sắc, gìn giữ tiếng nói, phong tục, ký ức cộng đồng và lòng tự hào về cội nguồn. Khi một ngôi trường được xây lên đúng nghĩa, nó không đơn thuần là một khối kiến trúc. Nó là trung tâm lan tỏa tri thức, là nơi học sinh học cách sống cùng nhau, học cách nhìn thế giới rộng hơn nhưng vẫn yêu bản làng mình hơn, học cách bước vào hiện đại mà không tự đánh mất mình.
Nếu được tổ chức tốt, những trường nội trú liên cấp ở vùng biên hoàn toàn có thể trở thành những thiết chế văn hóa đặc biệt của địa phương: nơi kết nối gia đình, nhà trường và cộng đồng; nơi truyền dạy cả tri thức phổ thông lẫn giá trị văn hóa bản địa; nơi khơi dậy khát vọng vươn lên nhưng không cắt đứt sợi dây gắn bó với quê hương. Đó là điều rất quan trọng, bởi phát triển bền vững không thể chỉ tính bằng hạ tầng cứng, mà còn phải tính bằng khả năng bảo tồn và phát huy vốn văn hóa của mỗi cộng đồng.

Phối cảnh công trình Trường Phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở Bản Lầu, xã Bản Lầu (Ảnh: UBND tỉnh Lào Cai).
Nói theo cách khác, nếu chỉ xây đường mà không xây người, thì con đường ấy có thể ngắn dần về khoảng cách địa lý nhưng chưa chắc đã rút ngắn được khoảng cách phát triển. Còn khi xây trường, đào tạo thầy cô, chăm lo việc học hành của học sinh vùng khó, chúng ta đang xây cái nền của một xã hội công bằng hơn. Sự công bằng ở đây không phải là chia đều mọi thứ một cách cơ học, mà là trao thêm điều kiện cho những nơi khó khăn hơn để họ có thể vươn lên.
Tôi cũng nghĩ nhiều đến hình ảnh “mái nhà chung” mà một số bài báo đã dùng để nói về hệ thống trường nội trú liên cấp ở khu vực biên giới. Hình ảnh ấy rất gợi. Bởi với nhiều em nhỏ, nhất là ở những bản làng xa xôi, trường học không chỉ là nơi học, mà còn là nơi trú ngụ an toàn, nơi có bữa cơm đủ đầy hơn, nơi có ánh sáng, có sách vở, có thầy cô dìu dắt và có bạn bè sẻ chia. Trong những điều kiện như thế, giáo dục mới thực sự chạm đến chiều sâu nhân văn của nó. Và cũng trong những điều kiện như thế, Nhà nước mới thể hiện rõ nhất vai trò kiến tạo, nâng đỡ và bảo vệ những công dân nhỏ bé nhất của mình. Nhìn theo nghĩa ấy, sự kiện khởi công đồng loạt 121 trường sáng 19/3 là sự đầu tư cho tương lai quốc gia, cho chất lượng nguồn nhân lực, cho bản lĩnh văn hóa, cho an ninh con người và cho sức bền của biên cương.
Dĩ nhiên, xây trường mới chỉ là bước đầu. Muốn chủ trương lớn này đi trọn vẹn vào đời sống, chúng ta còn phải tiếp tục chăm lo đến đội ngũ giáo viên, đến nội dung giáo dục phù hợp với đặc thù vùng miền, đến điều kiện ăn ở, y tế học đường, hoạt động văn hóa, thể thao, kỹ năng sống cho học sinh nội trú; phải quan tâm đến việc dạy tiếng Việt cho học sinh nhỏ tuổi nhưng cũng cần tôn trọng, gìn giữ tiếng mẹ đẻ và vốn văn hóa của các dân tộc; phải kết nối nhà trường với gia đình, với già làng, trưởng bản, với lực lượng biên phòng, với hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở.
Những ngôi trường mới chỉ thật sự thành công khi trong đó không chỉ có tường đẹp, lớp đẹp, mà còn có đời sống học đường tốt đẹp, có niềm vui đến lớp, có niềm tin của phụ huynh và có những lứa học sinh trưởng thành trở về phục vụ quê hương mình. Phát triển giáo dục vùng khó, vì vậy, luôn cần một tầm nhìn tổng thể: từ hạ tầng đến con người, từ ngân sách đến quản trị, từ tri thức hiện đại đến cội rễ văn hóa. Sự kiện hôm nay mở ra một khởi đầu rất đáng mừng, nhưng cũng nhắc chúng ta về trách nhiệm đi tiếp con đường ấy bằng sự kiên trì.
Có người từng nói, muốn biết một dân tộc nghĩ gì về tương lai, hãy nhìn cách dân tộc ấy đối xử với trẻ em. Tôi muốn nói thêm: hãy nhìn cách quốc gia ấy chăm lo cho những đứa trẻ ở nơi khó khăn nhất. Bởi chính ở đó, giá trị thật của mọi quyết sách được soi chiếu rõ nhất.
Khi những đứa trẻ vùng biên được đi học gần hơn với ước mơ, an toàn hơn trên hành trình đến lớp, và đầy đủ hơn trong điều kiện trưởng thành, thì đó là lúc chính sách không còn nằm trên giấy, mà đã bước vào cuộc sống bằng hình hài của niềm tin. Và khi tri thức được gieo nơi phên giậu, tương lai của đất nước cũng được góp phần bồi đắp từ chính những miền xa ấy.
Tác giả: PGS.TS Bùi Hoài Sơn là thạc sĩ chuyên ngành quản lý di sản và nghệ thuật tại Đại học Bắc London (University of North London); tiến sĩ quản lý văn hóa tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam. Ông hiện là Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!










