Nghề lạ: "Ngồi chuồng bò, làm mồi nhử muỗi" để chống dịch
(Dân trí) - Ít ai hình dung phía sau những chiến dịch phòng chống dịch bệnh là công việc âm thầm của các nhà nghiên cứu côn trùng y học, những người nhiều năm băng rừng, thức trắng đêm để “săn muỗi”.
Nghề ngồi chuồng bò, làm mồi nhử muỗi
Giữa đêm tối trong những chuồng bò nồng nặc mùi phân và hơi ẩm, nhiều cán bộ côn trùng y học phải dùng chính cơ thể mình làm “mồi nhử” để bắt muỗi truyền bệnh, lần theo dấu vết của sốt rét, sốt xuất huyết và nhiều dịch nguy hiểm khác.
Đây là chia sẻ của PGS.TS Hoàng Đình Cảnh, Viện trưởng Viện Sốt rét, Ký sinh trùng, Côn trùng Trung ương bên lề Hội nghị Côn trùng học quốc gia lần thứ 12 diễn ra ngày 21/5.

PGS.TS Hoàng Đình Cảnh, Viện trưởng Viện Sốt rét, Ký sinh trùng, Côn trùng Trung ương (Ảnh: Minh Nhật).
“Trong nghiên cứu về muỗi, nhiều khi bắt buộc phải dùng người thật làm mồi nhử. Nhiệt độ và mùi cơ thể người mới thu hút được muỗi", PGS Cảnh chia sẻ.
Ít ai hình dung phía sau những chiến dịch phòng chống dịch bệnh là công việc âm thầm của các nhà nghiên cứu côn trùng y học, những người nhiều năm băng rừng, thức trắng đêm để “săn muỗi”.
Trong bóng tối ở các bìa rừng, gầm nhà sàn hay chuồng gia súc, họ ngồi bất động hàng giờ liền, để hở cánh tay hoặc cẳng chân làm mồi thu hút muỗi.
Khi muỗi vừa đáp xuống da, cán bộ nghiên cứu phải thật nhanh tay dùng ống hút chuyên dụng bắt lại, cho vào lọ riêng để phân loại.
Mỗi con muỗi sau đó đều được đánh dấu chi tiết về thời gian bắt, vị trí xuất hiện và đặc điểm chủng loài để phục vụ nghiên cứu dịch tễ.
“Có những ca trực kéo dài suốt 6 tiếng giữa đêm mới được đổi người”, PGS Cảnh cho biết.
Không chỉ vất vả, công việc này còn tiềm ẩn nguy cơ phơi nhiễm bệnh tật. Nhiều cán bộ phải làm việc ở khu vực có dịch sốt rét lưu hành, nơi mật độ muỗi dày đặc và điều kiện sinh hoạt thiếu thốn.
Theo GS.TSKH Vũ Quang Côn - Chủ tịch Hội Côn trùng học Việt Nam, hiện có khoảng 1.200 loài côn trùng được xếp vào nhóm gây hại nông nghiệp, tuy nhiên thực tế chỉ một tỷ lệ nhỏ gây thiệt hại nghiêm trọng.

GS.TSKH Vũ Quang Côn - Chủ tịch Hội Côn trùng học Việt Nam (Ảnh: Minh Nhật).
Phần lớn các loài côn trùng còn lại đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn tự nhiên và duy trì cân bằng sinh thái.
Nhiều loài là nguồn thức ăn cho chim, lưỡng cư, bò sát và các loài thiên địch khác. Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật không chỉ tiêu diệt sâu hại mà còn làm suy giảm các loài có ích, từ đó phá vỡ cân bằng sinh thái và khiến dịch hại có nguy cơ bùng phát mạnh hơn.
Trong bối cảnh dịch bệnh mới nổi ngày càng phức tạp, biến đổi khí hậu diễn biến khó lường và quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, ngành côn trùng học tiếp tục giữ vai trò then chốt trong công tác y tế dự phòng, kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Những “sát thủ tí hon” gây ra hàng triệu ca bệnh
Theo PGS Cảnh, nhiều người thường chỉ xem muỗi là loại côn trùng gây khó chịu. Trên thực tế, đây là vật trung gian truyền nhiều bệnh nguy hiểm hàng đầu thế giới.
Muỗi Anopheles là véc-tơ truyền bệnh sốt rét. Trong khi đó, muỗi Aedes aegypti được xem là thủ phạm chính gây sốt xuất huyết Dengue.
Ngoài muỗi, nhiều loại côn trùng khác như ve, bọ chét, rận cũng có thể mang mầm bệnh truyền sang người.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) từng cảnh báo các bệnh do véc-tơ truyền chiếm hơn 17% tổng số bệnh truyền nhiễm trên toàn cầu và gây hơn 700.000 ca tử vong mỗi năm.
Riêng sốt rét từng là nỗi ám ảnh tại Việt Nam trong nhiều thập kỷ.
PGS Cảnh cho biết có giai đoạn mỗi năm nước ta ghi nhận hàng triệu ca sốt rét, tập trung chủ yếu ở vùng núi, vùng sâu vùng xa. Nhiều bệnh nhân thiếu máu nặng, gan lách to, thậm chí tử vong vì sốt rét ác tính.
Tuy nhiên, sau hàng chục năm triển khai các chương trình phòng chống dịch, giám sát véc-tơ truyền bệnh, phun hóa chất và bảo vệ người dân vùng rừng núi, số ca mắc đã giảm rất sâu.
“Hiện mỗi năm chỉ còn khoảng 200 đến 300 ca sốt rét. Đây là thành tựu rất lớn mà nhiều quốc gia chưa làm được. Việt Nam đang hướng tới mục tiêu loại trừ hoàn toàn sốt rét vào năm 2030”, ông nói.
Nếu sốt rét đang được kiểm soát tốt hơn thì sốt xuất huyết lại diễn biến phức tạp hơn nhiều năm trước.
Theo PGS Cảnh, trước đây dịch sốt xuất huyết thường bùng phát theo chu kỳ khoảng 5 năm. Nhưng vài năm gần đây, dịch xuất hiện gần như quanh năm ở nhiều địa phương.
Biến đổi khí hậu, thời tiết nóng ẩm và mưa nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi sinh sản nhanh hơn. Đáng lo ngại, muỗi truyền bệnh hiện không còn chỉ tập trung ở khu dân cư đông đúc hoặc khu vực vệ sinh kém.
“Muỗi thích nghi rất mạnh. Không phải sống ở nhà cao tầng hay khu đô thị hiện đại là tránh được sốt xuất huyết”, PGS Cảnh nhấn mạnh.
Theo các nghiên cứu dịch tễ, muỗi Aedes có khả năng sinh sản ngay trong những vật chứa nước rất nhỏ như nắp chai, khay nước điều hòa, lọ hoa hay cốc nhựa bỏ quên ngoài ban công.
Trứng muỗi còn có thể tồn tại nhiều tháng trong điều kiện khô ráo và nở trở lại khi gặp nước.
Đó cũng là lý do nhiều chiến dịch phòng chống sốt xuất huyết luôn nhấn mạnh việc diệt lăng quăng, bọ gậy tại hộ gia đình thay vì chỉ phun hóa chất diệt muỗi trưởng thành.
“Muốn chặn dịch bệnh thì bắt buộc phải cắt đứt chuỗi lây truyền từ người bệnh sang muỗi rồi từ muỗi sang người lành”, ông Cảnh nói.
Đằng sau các chương trình phòng dịch là mạng lưới nghiên cứu côn trùng học ít được biết đến.
Các nhà khoa học hiện không chỉ nghiên cứu tập tính hút máu hay thời gian hoạt động của muỗi mà còn phân tích sâu vòng đời virus trong cơ thể côn trùng truyền bệnh.
Theo PGS Cảnh, nhiều dự án hợp tác quốc tế đang được triển khai nhằm tìm hiểu cơ chế virus tồn tại từ giai đoạn ấu trùng, trưởng thành cho tới khả năng truyền bệnh sang người.
Một số nghiên cứu còn theo dõi khả năng kháng hóa chất của muỗi, bởi nhiều quần thể muỗi hiện đã thích nghi sau thời gian dài tiếp xúc thuốc diệt côn trùng.
“Chỉ khi hiểu rõ véc-tơ truyền bệnh thì chúng ta mới có thể xây dựng chiến lược kiểm soát dịch hiệu quả”, ông nhấn mạnh.
Tại hội nghị, các chuyên gia cho rằng, nghiên cứu về côn trùng là lĩnh vực đặc thù, ít được chú ý nhưng lại có ý nghĩa rất lớn đối với y tế dự phòng. Để nghiên cứu tập tính muỗi truyền bệnh, nhiều cán bộ phải trực tiếp làm việc trong rừng sâu, chuồng gia súc hay những khu vực có nguy cơ cao để thu thập mẫu, theo dõi mật độ côn trùng và đánh giá nguy cơ truyền bệnh.





