Vụ tranh chấp khách sạn vì 10 triệu USD:

Từ hợp đồng làm sòng bạc… giả đến việc tố ngược chủ nợ “rửa tiền”

(Dân trí) - Vụ tranh chấp khách sạn Wooshu Plaza (Đồng Nai), bên “thua kiện” hết gửi đơn tới Chủ tịch nước tố bên “thắng kiện” mang 10 triệu USD đi kinh doanh sòng bạc lại tố cáo với Chánh án TAND tối cao là “ân nhân” có dấu hiệu rửa tiền vào Việt Nam…

Như Dân trí đã đưa tin, TAND tối cao khi phân xử vụ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng khách sạn Wooshu Plaza (Đồng Nai) giữa Công ty Vĩnh Tường và chủ nợ (Công ty Orient) đã ra phán quyết buộc Vĩnh Tường phải giao khách sạn cho Vĩnh Thiện Đồng Nai để đối trừ khoản nợ gốc và lãi hơn 10 triệu USD.
 
Bản án có hiệu lực pháp luật nhưng Vĩnh Tường gửi đơn đến Chủ tịch nước phủ nhận việc vay tiền, “tố” Vĩnh Thiện Đồng Nai dùng khoản tiền 10 triệu USD này để “hợp tác kinh doanh sòng bạc”.
 
Hợp đồng “hợp tác kinh doanh sòng bạc” này đã được tòa xác định là… giả, công ty Vĩnh Tường cũng như khách sạn Wooshu Plaza chưa bao giờ được cấp phép kinh doanh trò chơi đánh bạc.
Khách sạn Wooshu Plaza đã được tòa án giao cho Công ty Vĩnh Thiện Đồng Nai.
Khách sạn Wooshu Plaza đã được tòa án giao cho Công ty Vĩnh Thiện Đồng Nai. 
 
Ngoài ra, công ty Vĩnh Tường cũng có đơn gửi Chủ tịch nước tố cáo chị Nguyễn Thị Bích Hạnh - người đã đứng ra vay tiền giúp Công ty Vĩnh Tường và thanh toán toàn bộ khoản nợ hơn 188 tỷ đồng mà Công ty Vĩnh Tường nợ ngân hàng Nam Á.
 
Trong đơn gửi Chủ tịch nước ngày 3/8/2013 và đơn gửi CQĐT - Bộ Công an ngày 12/9/2013, lãnh đạo công ty Vĩnh Tường cho rằng, công ty có ủy quyền cho chị Hạnh đứng ra vay tiền và quản lý tài sản để đảm bảo trả nợ vay nhưng thực tế, Công ty không nhận tiền 10 triệu USD từ hợp đồng vay tiền mà chị Hạnh ký. Công ty “tố” chị Hạnh đã ký khống hợp đồng vay tiền 10 triệu USD.

Thậm chí, bà Linda Tan Woo, Chủ tịch Công ty Vĩnh Tường cho rằng, chị Hạnh đã “mua” công chứng viên để được công chứng hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với giá 228 tỷ đồng và tố cả thẩm phán tòa sơ thẩm đã bị mua chuộc.

Tuy nhiên, những tố cáo này không kèm bằng chứng.

Luật sư Lê Văn Đài (đoàn Luật sư TP.Hà Nội) phân tích, việc xem xét giải quyết vụ án sau khi đã có bản án phúc thẩm phải căn cứ các quy định của pháp luật về kiểm tra, giám đốc thẩm bản án. Theo đó, đơn yêu cầu xem xét giám đốc thẩm phải nêu rõ bằng chứng chứng minh cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc áp dụng không đúng pháp luật dẫn đến làm thay đổi bản chất vụ việc. Cả 2 cấp tòa sau khi xét xử đều thống nhất nhận định, đủ chứng cứ, cơ sở kết luận công ty Vĩnh Tường vay vốn của Công ty Orient (khoản nợ này được Orient dùng làm vốn góp vào công ty Vĩnh Thiện Đồng Nai) chứ không phải là nhận tiền theo hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Ngay đầu lá đơn gửi Chánh án TAND tối cao và Viện trưởng VKSND tối cao xin được giám đốc thẩm vụ án, 4 luật sư bảo vệ cho Công ty Vĩnh Tường tại phiên phúc thẩm nêu lý do là “có dấu hiệu rửa tiền vào Việt Nam”.

Đây cũng không phải là lần đầu tiên các luật sư của Công ty Vĩnh Tường nêu ra vấn đề này. Trong phiên tòa phúc thẩm ngày 14/10/2013, các luật sư của Công ty Vĩnh Tường cũng đưa ra, tranh luận về vấn đề này nhưng bị HĐXX bác bỏ vì nội dung không liên quan đến vụ án.
 
Chủ tọa phiên tòa khi đó đã giải thích, phiên tòa xem xét việc Công ty Vĩnh Tường có vay tiền của Công ty Orient hay không chứ không xem xét việc “rửa tiền”. Nếu đủ cơ sở xác định Công ty Vĩnh Tường vay tiền thì người vay phải giao tài sản để trả nợ quá hạn theo đúng thỏa thuận khi vay.

Ngoài ra, nếu việc công ty Orient cho Công ty Vĩnh Tường vay 10 triệu USD là “rửa tiền” thì  những người tiêu khoản tiền khổng lồ này cũng phải gánh trách nhiệm vì việc đã giúp “rửa”, sử dụng hết số tiền này.

Còn theo Luật Phòng chống rửa tiền, “rửa tiền” là hành vi của tổ chức, cá nhân thông qua các nghiệp vụ tài chính, tín dụng để hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có; trợ giúp cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến tội phạm nhằm trốn tránh trách nhiệm pháp lý bằng việc hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có; chiếm hữu tài sản nếu tại thời điểm nhận tài sản đã biết rõ tài sản đó do phạm tội mà có, nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản. Không có bằng chứng cụ thể mà tố chủ nợ là “rửa tiền”, người tố cáo sẽ gặp rắc rối nếu chủ nợ yêu cầu xử lý vì bị vu khống.

P.Thảo

Đang được quan tâm