(Dân trí) - TS Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc chuyên môn Ban nghiên cứu kinh tế tư nhân, cho rằng Việt Nam không chỉ cần xây dựng các tập đoàn kinh tế lớn mà còn phải nuôi dưỡng, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ về phát triển kinh tế tư nhân đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách quan trọng, trong đó có các chính sách ưu tiên và khuyến khích chuyển đổi xanh, hướng tới tăng trưởng nhanh và bền vững. Chuyển đổi xanh cũng là một xu hướng lớn của kinh tế thế giới trong những năm gần đây.
Báo Dân trí có cuộc trao đổi với TS. Bùi Thanh Minh - Phó Giám đốc chuyên môn, Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) - về chủ đề quan trọng này.
Doanh nghiệp Việt giải bài toán chuyển đổi xanh như thế nào? Video: Phạm Tiến

Thưa TS. Bùi Thanh Minh, nền kinh tế thế giới đang vận động theo một số xu hướng lớn như chuyển đổi xanh, chuyển đổi số. Ông có nhận xét gì về chuyển đổi xanh trong bức tranh thế giới hiện nay?
- Chúng ta đang chứng kiến những biến động lớn của tình hình thế giới: khủng hoảng Trung Đông, các rào cản thương mại liên quan chính sách thuế quan. Đó là một thế giới phân mảnh sâu sắc. Ở khía cạnh đó, những câu chuyện về phát triển bền vững và chuyển đổi xanh cũng tạo ra những rào cản, áp lực tuân thủ ở cấp độ quốc gia và doanh nghiệp. Nằm trong một tổng thể như vậy, vấn đề chuyển đổi xanh của thế giới cũng có những diễn biến rất khác nhau qua từng giai đoạn.
Năm 2022, khi nhận được thông tin về CBAM (Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon của Liên minh châu Âu), về những rào cản môi trường và dấu chân carbon, cũng như các quy định liên quan đến lao động trong chuỗi cung ứng, chúng tôi đã có những nghiên cứu chuyên sâu để báo cáo với Chính phủ và đưa ra khuyến nghị với cộng đồng doanh nghiệp.
Trải qua 3 năm theo dõi diễn biến, chuyển động của thị trường thế giới, chúng tôi nhận thấy:
Thứ nhất, chuyển đổi xanh vẫn tiếp tục là một cuộc chơi, một cuộc đua toàn cầu, trong đó những thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc đều có những chính sách riêng.
Ở cấp độ doanh nghiệp cũng có những chuyển dịch nhất định, nhất là sau những cam kết rất mạnh mẽ ở Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc lần thứ 26 (COP26). Nhiều doanh nghiệp lớn của thế giới đã tuyên bố tuân thủ thực hành ESG (bộ tiêu chuẩn đo lường phát triển bền vững gồm 3 yếu tố Environmental - Môi trường, Social - Xã hội và Governance - Quản trị doanh nghiệp). 96% trong số 250 doanh nghiệp lớn nhất toàn cầu đã có những báo cáo liên quan đến môi trường, và phát triển bền vững. Nhìn chung, ở cấp độ doanh nghiệp đã cho thấy sự sẵn sàng thực hiện các trách nhiệm của mình với môi trường.

Tuy nhiên, gần đây đã xuất hiện sự phân mảnh về mặt chính sách. Năm 2026, CBAM cũng như những chính sách liên quan đến EUDR (quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu) hay Đạo luật Thẩm định Chuỗi cung ứng của Đức (LkSG) đã bước vào giai đoạn thực thi, song do những điều kiện khó khăn nên đã gỡ đi những rào cản kỹ thuật đối với khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong khi doanh nghiệp lớn vẫn phải tuân thủ.
Thứ hai, sự gia hạn thời gian đạt mục tiêu Net Zero của các quốc gia và doanh nghiệp do những khó khăn về thương mại và trọng tâm phát triển thay đổi, chẳng hạn phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn cần rất nhiều năng lượng, khiến nhiều tập đoàn và quốc gia phải nới rộng câu chuyện phát triển bền vững và môi trường. Tuy nhiên, xu hướng dài hạn không thể tránh khỏi: chuyển đổi xanh là vô cùng cần thiết.
Đặt trong bối cảnh quốc tế như vậy, Việt Nam cũng đã có những trọng tâm chính sách nhấn mạnh rằng, chúng ta không chuyển đổi xanh chỉ vì áp lực bên ngoài, mà còn xuất phát từ nội tại của nền kinh tế, chúng ta coi kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số là động lực tăng trưởng mới.
Rõ ràng, chuyển động quốc tế và chuyển động chính sách trong nước đã tạo cho doanh nghiệp những động lực cũng như áp lực buộc phải chuyển đổi mô hình kinh doanh của mình.

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh như vậy, những vấn đề gì đặt ra đối với doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa?
- Chúng tôi thấy doanh nghiệp ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về câu chuyện chuyển đổi xanh, về quản lý rủi ro trong chuỗi cung ứng... Tuy nhiên, một trong những khó khăn khi thực hành chuyển đổi xanh và phát triển bền vững là nó đòi hỏi rất nhiều nguồn lực, từ vốn, tri thức đến sự sẵn sàng của các cấp lãnh đạo. Qua khảo sát doanh nghiệp, chúng tôi thấy có 4 khó khăn chính:
Thứ nhất là thiếu vốn. Tất cả chuyển đổi đòi hỏi đầu tư máy móc, thay đổi quy trình đều cần một nguồn vốn.
Thứ hai là thiếu nhân lực có chuyên môn. Rất ít người có chuyên môn thực sự sâu về chuyển đổi xanh và phát triển bền vững, kể cả trong doanh nghiệp lẫn trong hệ thống tài chính. Nhiều ngân hàng gặp khó khăn trong triển khai tín dụng xanh vì không có nhân sự đáp ứng được yêu cầu chuyên môn sâu như vậy.
Thứ ba là thiếu các giải pháp kỹ thuật. Cần có những giải pháp kỹ thuật, những mô hình tiên phong để “đóng gói” và lan tỏa đến cộng đồng doanh nghiệp.
Thứ tư là sự phân mảnh về mặt chính sách cũng như khác biệt về nhận thức đối với câu chuyện chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Ngay tại Hoa Kỳ, trong thực hành ESG, chuyển đổi xanh cũng có sự phân mảnh rất lớn giữa các bang với nhau; hay sự chuyển đổi chính sách rất lớn từ thời Tổng thống Biden sang Tổng thống Trump. Những điều đó tạo ra rào cản, cả hữu hình lẫn vô hình, làm cho sự sẵn sàng và việc bố trí nguồn lực của doanh nghiệp cho chuyển đổi xanh, cho thực hành phát triển bền vững gặp nhiều khó khăn.

Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành rất nhiều nghị quyết và nghị định để thể chế hóa, trong đó có các quy định liên quan đến chuyển đổi xanh. Theo ông, doanh nghiệp có thể lắng nghe những nhịp đập thay đổi chính sách đó và nhận được những tín hiệu gì trong quá trình chuyển đổi xanh?
- Chúng ta cần đặt Nghị quyết 68 cũng như những câu chuyện liên quan chuyển đổi xanh trong một bài toán tổng thể lớn hơn của quốc gia trong giai đoạn hiện tại.
Chúng ta có công cuộc Đổi mới năm 1986 và tính đến năm 2026 đã trải qua 40 năm. Sự thay đổi lớn nhất trong công cuộc Đổi mới đó là chuyển đổi tư duy, chúng ta chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự chuyển đổi đó giúp chúng ta giải phóng được nguồn lực về tài nguyên đất đai, lao động… đưa vào phát triển kinh tế. Từ một nước nghèo, Việt Nam vươn lên trở thành một nước thu nhập trung bình cao và một nền kinh tế xuất khẩu rất quan trọng của thế giới.
Trải qua 40 năm, chúng ta có rất nhiều thành tựu nhưng bên cạnh đó cũng còn rất nhiều câu chuyện cần giải quyết. Những điểm nghẽn không chỉ là về hạ tầng, nhân lực hay môi trường…, mà còn là mô hình tăng trưởng. Nếu chỉ dựa trên thâm dụng tài nguyên, thâm dụng lao động, Việt Nam sẽ không cách nào trở thành một nước có thu nhập cao vào năm 2045, nhất là trong bối cảnh dân số đang già đi rất nhanh chóng. Do đó, trong nội tại đất nước, chúng ta đang chứng kiến sự chuyển động về chính sách rất rõ ràng.
Trong suốt năm 2025, có nhiều nghị quyết của Bộ Chính trị được ban hành: Nghị quyết 57 về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết 66 về đột phá thể chế, Nghị quyết 59 về hợp tác quốc tế, Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân...
Những nghị quyết đó tạo ra một la bàn phát triển quốc gia trong giai đoạn mới: Thứ nhất, mô hình tăng trưởng phải dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thứ hai, trao trách nhiệm tiên phong cho doanh nghiệp tư nhân trong việc phát triển đất nước để đạt được mục tiêu quốc gia đến năm 2045.

Trong Nghị quyết 68 có hai tư duy rất quan trọng. Một là tư duy “cởi trói”, giúp doanh nghiệp thoát khỏi những khó khăn trong quá trình phát triển như tiếp cận đất đai, tiếp cận vốn, tín dụng. Hai là tư duy phát triển, đặt câu chuyện phát triển doanh nghiệp không tách rời câu chuyện phát triển quốc gia, phân doanh nghiệp thành những loại hình khác nhau với những chính sách hỗ trợ được “đo ni đóng giày” cho từng loại hình: doanh nghiệp lớn tham gia vào những bài toán quốc gia; doanh nghiệp vừa kết nối toàn cầu, tiên phong trong chuyển đổi; doanh nghiệp nhỏ có môi trường ít rào cản hơn, chi phí tuân thủ thấp hơn; từ đó nhằm tạo ra một cấu trúc doanh nghiệp thực sự lành mạnh.
Trong tổng thể về chuyển đổi và phát triển doanh nghiệp như vậy, những câu chuyện liên quan chuyển đổi xanh và thực hành ESG được đưa vào để: thứ nhất là giúp doanh nghiệp có những nguồn lực để vượt qua khó khăn trong quá trình phát triển; thứ hai là có được một định hướng tư duy phát triển không chỉ phù hợp với điều kiện, tình hình trong nước mà còn phù hợp với xu hướng quốc tế. Bởi, với một nền kinh tế hướng xuất khẩu, tất cả chuyển động ở thị trường thế giới sẽ ảnh hưởng đến doanh nghiệp ngay lập tức, từ câu chuyện thuế đối ứng đến khủng hoảng Trung Đông... Vì vậy, câu chuyện phát triển doanh nghiệp ngoài giải quyết vấn đề nội tại của doanh nghiệp, giải quyết câu chuyện phát triển của quốc gia còn cần phải được đặt trong bối cảnh tổng thể của một thế giới đang thay đổi từng ngày.

Có thể thấy sự chuyển động của chủ trương, chính sách rất nhanh. Nhìn về phía cộng đồng doanh nghiệp, liệu họ đã sẵn sàng với những xu thế chuyển đổi đó chưa, thưa ông?
-Việc trông đợi vào chính sách của cộng đồng doanh nghiệp thì có thể có, có thể không, tùy thuộc vào mô hình kinh doanh và sự ưu tiên của họ trong từng thời kỳ, từng thị trường. Tuy nhiên, với tư cách là một đơn vị gắn bó với doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy:
Thứ nhất, khi chứng kiến những chuyển động của đất nước và quyết tâm của lãnh đạo, các doanh nghiệp và doanh nhân cũng được truyền cảm hứng. Doanh nghiệp muốn phát triển tốt hơn thì cần những xung lực lớn, và quốc gia đang tạo ra những xung lực như vậy, mang đến một niềm tin chiến lược. Bởi một thời gian dài trước đây khi đầu tư tư nhân suy giảm nhanh chóng, chúng tôi nhận thấy rằng người ta không yên tâm thì họ sẽ không đầu tư. Và khi nhìn thấy được sự nhất quán về mặt chính sách, sự nhất quán trong chỉ đạo thì niềm tin từ phía khu vực công sẽ được chuyển tải, lan tỏa sang khu vực tư.
Sau Nghị quyết 68, rất nhiều doanh nhân thể hiện khát vọng, đề xuất và sẵn sàng tham gia vào những bài toán lớn mà trước kia họ không có điều kiện nói ra. Tôi nhớ có vị doanh nhân 70 tuổi đã chia sẻ “khi nghe như vậy thì tôi muốn khởi nghiệp lại một lần nữa”, cho thấy trong đó không chỉ là khát vọng cho bản thân mà còn là khát vọng được để lại những di sản cho đời, vì đất nước, vì người lao động.

Thứ hai, trong thực tiễn đã có những chuyển động thực tế. Nhiều chính quyền địa phương đã trở thành chính quyền kiến tạo và phát triển. Nhiều lãnh đạo địa phương gặp doanh nghiệp cả trong những ngày thứ bảy, chủ nhật; nhiều đề xuất của doanh nghiệp được giải quyết chỉ trong 1-2 ngày; nhiều địa phương đối xử rất chân thành với doanh nghiệp và coi sự phát triển của doanh nghiệp cũng là sự phát triển của địa phương mình. Từ đó, doanh nghiệp cảm nhận được sự trân trọng và không cô đơn trong hành trình làm ăn, kinh doanh của họ.
Thứ ba, với những chuyển động rất lớn về hạ tầng, những công trình lớn của quốc gia, sẽ tạo ra cho doanh nghiệp những cơ hội để vươn lên, nâng cao tầm vóc.
Trong việc thể chế hóa Nghị quyết 68 cũng như các nghị quyết khác của Bộ Chính trị, rất nhiều chính sách đã được xây dựng dựa trên nền tảng: làm thế nào để doanh nghiệp Việt Nam có một sân chơi bình đẳng hơn, cạnh tranh dựa trên quy định và kỷ luật thị trường, có cơ hội gia nhập những chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao giá trị của Việt Nam trong chuỗi giá trị đó; và tạo ra được những doanh nghiệp nội địa – chính là đôi cánh của nền kinh tế đất nước, nếu chúng ta thực sự muốn cất cánh và phát triển bền vững.
Như ông nói, chúng ta đang nhìn thấy nền kinh tế đón nhận một “luồng gió mới” về chính sách. Tuy nhiên, đối với một bộ phận đáng kể doanh nghiệp đã quen với tư duy sản xuất kinh doanh “nâu”, “xám”, bây giờ chuyển đổi “xanh” thì liệu họ có gặp những khó khăn gì không và mức độ sẵn sàng của họ như thế nào, thưa ông?
-Bất cứ sự chuyển đổi nào cũng cần phải có một hệ sinh thái thì mới có thể thành công được, và khi xây dựng chính sách thì cũng phải xây dựng một hệ sinh thái chính sách để doanh nghiệp có thể chuyển đổi. Chúng tôi nhấn mạnh 3 yếu tố cho một sự chuyển đổi:
Thứ nhất là những áp lực hay động lực của thị trường. Những doanh nghiệp lớn, những doanh nghiệp nằm trong chuỗi của FDI, họ cảm nhận áp lực lớn hơn rất nhiều từ chuỗi và buộc phải tuân thủ, buộc phải chuyển đổi. Hay là nhu cầu thị trường về sản phẩm có nguồn gốc, có truy xuất rõ ràng, thân thiện với môi trường được đánh giá và trả giá cao hơn cũng tạo động lực cho doanh nghiệp.
Thứ hai là nội lực của doanh nghiệp trong việc chuyển đổi, bởi chuyển đổi cần nguồn lực rất lớn trên nhiều khía cạnh, từ tài chính, mô hình quản trị đến năng lực lãnh đạo. Nước ta có một triệu doanh nghiệp nhưng 97% là doanh nghiệp vừa và nhỏ; 50% doanh nghiệp báo cáo kết quả kinh doanh thua lỗ. Tình trạng thua lỗ phản ánh hoặc là mô hình quản trị có vấn đề (nếu lỗ thật), hoặc là tư duy ngắn hạn đang đè bẹp tư duy dài hạn (nếu lỗ không thật), vậy nội lực của doanh nghiệp liệu đã sẵn sàng chưa? Ai cũng mong muốn tốt, ai cũng mong muốn xanh, nhưng phải hợp lý, phải phù hợp với thể trạng của doanh nghiệp mình.
Thứ ba là một hệ sinh thái chính sách từ chính sách tài khóa, các chính sách công nghiệp đến những chính sách liên quan thị trường tín chỉ carbon… tất cả phải tạo ra tác động lan tỏa để doanh nghiệp có thể chuyển đổi được.
Nhìn sâu vào thực tế thì thấy rằng, sự sẵn sàng của doanh nghiệp chưa thực sự cao, chủ yếu chỉ nằm ở những doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp đầu chuỗi và những doanh nghiệp trong chuỗi FDI. Theo khảo sát của chúng tôi, đến năm 2024 vẫn có đến 64% doanh nghiệp chưa chuẩn bị gì. Có thể doanh nghiệp chưa nhận thấy được lợi thế của người đi tiên phong, có thể do những vấn đề khó khăn như không có thông tin; thiếu vốn, thiếu nhân sự chuyên môn, thiếu giải pháp kỹ thuật; hoặc chưa có niềm tin dài hạn. Khi phải đối mặt với khó khăn thị trường, người ta sẽ ưu tiên cho câu chuyện thị trường trước.
Áp lực của những người xây dựng chính sách là làm thế nào để chính sách hỗ trợ đi vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó mới giúp doanh nghiệp có động lực rõ ràng hơn.

Như vậy có thể thấy, với áp lực từ thị trường quốc tế thì rõ ràng các doanh nghiệp FDI chuyển đổi rất nhanh. Còn đối với áp lực từ thị trường trong nước thì sao, người tiêu dùng Việt Nam đã có những đòi hỏi về chuyển đổi xanh đối với doanh nghiệp chưa, thưa ông?
- Các khảo sát thị trường cho thấy giới trẻ bây giờ cũng quan tâm đến các sản phẩm thân thiện với môi trường, những sản phẩm có sử dụng những nhãn xanh. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện tại, sự quan tâm của thị trường Việt Nam chủ yếu nhắm đến nguồn gốc hàng hóa, đặc biệt là thực phẩm. Bởi sau một giai đoạn rất dài không tuân thủ nghiêm ngặt những quy định về nguồn gốc xuất xứ của thực phẩm, thị trường trong nước đang phải đối mặt với rất nhiều câu chuyện tiêu cực, bao gồm sức khỏe cộng đồng, người tiêu dùng mất niềm tin vào chất lượng sản phẩm. Và trong bối cảnh đó, công chúng dành sự quan tâm nhiều hơn đến vấn đề truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm.
Nhưng xu hướng tương lai thì chắc chắn là cộng đồng và người tiêu dùng sẽ quan tâm đến môi trường, đến yếu tố “xanh” của sản phẩm, bởi hiện nay ai cũng đều nhận thấy, rất nhiều vấn đề môi trường đang ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân. Khi đời sống được nâng cao, mức thu nhập bình quân đầu người đạt trên 5.000 USD sẽ tạo ra những chuyển biến rất lớn về mặt nhận thức của cộng đồng, và lúc đó, câu chuyện xanh, phát triển bền vững sẽ là một ưu tiên của thị trường.
Nếu doanh nghiệp nhìn nhận được xu hướng đó, chắc chắn họ sẽ có sự chuyển đổi, đi trước đón đầu. Lấy ví dụ như hiện tại, xe điện đã trở nên rất phổ biến, người tiêu dùng lựa chọn vì lợi ích của bản thân họ, có thể là tiện lợi hơn, có thể là chi phí tối ưu hơn, bên cạnh những chính sách hỗ trợ của nhà nước và của doanh nghiệp.

Thưa ông, trong số những chính sách mà Nhà nước đã ban hành về phát triển kinh tế tư nhân, có những chính sách cụ thể nào về chuyển đổi xanh mà cộng đồng doanh nghiệp nên quan tâm để tận dụng tốt nhất các cơ chế ưu đãi?
- Chúng ta đang chứng kiến một tốc độ thể chế hóa rất nhanh, từ việc xây dựng và ban hành Nghị quyết 68 vào tháng 5/2025, chỉ sau 2 tuần đã được thể chế hóa ở Quốc hội theo Nghị quyết 198. Và hiện tại, một loạt nghị định, chính sách để thể chế hóa Nghị quyết 68 đã được ban hành, bao gồm Nghị định 20; Quyết định số 631/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong giai đoạn 2026-2030, các chính sách “Go Global” giúp doanh nghiệp vươn ra toàn cầu.
Câu chuyện bây giờ là doanh nghiệp nên tận dụng chính sách ra sao cho hiệu quả? Có thể thấy, có rất nhiều chính sách hướng đến khoa học công nghệ, chuyển đổi xanh mà doanh nghiệp nên quan tâm:
Thứ nhất là hỗ trợ lãi suất 2% đối với những mô hình kinh doanh có yếu tố bảo vệ môi trường, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và thực hành ESG. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến về chương trình hỗ trợ, về tiêu chuẩn, tiêu chí, kỳ vọng sẽ sớm được đưa vào thực tiễn.
Thứ hai là chương trình 1.000 doanh nghiệp tiên phong, trong đó có những ưu tiên cho công nghệ xanh, chuyển đổi số, mô hình kinh doanh bền vững trong nông nghiệp hay các ngành khác nhau. Khi là doanh nghiệp tiên phong, sẽ có chương trình hỗ trợ cả về mô hình quản trị, vốn tín dụng ưu đãi, kết nối vào chuỗi giá trị toàn cầu, hay việc tham gia đấu thầu khu vực công. Nhà nước sẵn sàng trở thành khách hàng đầu tiên để nâng đỡ những sản phẩm như vậy trong giai đoạn đầu thị trường.

Thứ ba là chương trình “Go Global” khuyến khích doanh nghiệp đưa sản phẩm ra toàn cầu. Thành công của Việt Nam trong 40 năm qua là lựa chọn trở thành nền kinh tế hướng xuất khẩu, nhờ đó doanh nghiệp có cơ hội phát triển trong một môi trường có tính cạnh tranh rất cao, sự đào thải của thị trường đặt ra cho doanh nghiệp yêu cầu ngày càng phải tinh, phải tối ưu và phát triển bền vững.
Có lẽ nhiều doanh nghiệp đang băn khoăn về việc, chính sách đã có, vấn đề là thực thi ra sao? Bản thân chúng tôi cũng nhận thấy, việc của chúng ta không phải là ban hành thêm chính sách mà làm thế nào để các chính sách đã có được thực thi một cách hiệu quả trong thực tiễn, từ đó củng cố niềm tin của doanh nghiệp, tránh câu chuyện có chính sách nhưng doanh nghiệp thờ ơ.
Trong việc thực thi, cần làm sao để chuyển đổi ngôn ngữ chính sách thành ngôn ngữ doanh nghiệp. Tức là bên cạnh các nghị quyết, nghị định thì cần phải có những chiến lược, những hướng dẫn để doanh nghiệp có thể tiếp cận được chính sách và lấy nguồn lực đó đưa vào hoạt động kinh doanh. Bởi vì khi xu hướng cạnh tranh toàn cầu rất gay gắt như hiện tại, những chính sách của Nhà nước cần phải đóng vai trò là “bà đỡ” cho doanh nghiệp.

Ông nhìn nhận khoảng cách giữa ngôn ngữ chính sách và ngôn ngữ doanh nghiệp như thế nào?
-Thực tế là sẽ luôn có khoảng cách. Bởi người làm chính sách có tư duy, có chức năng nhiệm vụ của người làm chính sách; còn người làm doanh nghiệp thì có tư duy, có mục tiêu của doanh nghiệp. Mục tiêu của doanh nghiệp có thể là nhanh, có thể là lợi nhuận, trong khi mục tiêu của người làm chính sách thì rộng hơn, đặt trong bài toán tổng thể hoặc để đảm bảo được sự an toàn tổng thể.
Tuy vậy, với triết lý “lấy doanh nghiệp làm trung tâm” thì người làm chính sách phải làm thế nào để xây dựng được những chính sách thực sự phục vụ lợi ích của doanh nghiệp, thực sự tạo ra cú hích cho doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi và phát triển. Theo đó, ngôn ngữ xây dựng chính sách và cách thức triển khai chính sách cũng sẽ phải phù hợp với doanh nghiệp.
Lấy ví dụ, khi công bố danh sách các doanh nghiệp nằm trong danh sách kiểm kê thì rất ít doanh nghiệp biết được mình nằm trong danh sách đó. Với thời đại công nghệ thông tin và chuyển đổi số như hiện tại, nếu có một chiến lược rõ ràng, danh sách đó có thể được gửi đến từng doanh nghiệp để họ có sự chuyển đổi từ trước.
Rõ ràng, để không còn khoảng cách nữa thì rất khó, nhưng để doanh nghiệp và cơ quan quản lý đến gần nhau hơn thì cần phải có rất nhiều diễn đàn chia sẻ để doanh nghiệp có thể nói lên những khó khăn, những vấn đề thực tế phát sinh trong quá trình thực thi chính sách. Nhà nước “kiến tạo phát triển” phải được thể hiện bằng việc lắng nghe ý kiến doanh nghiệp, để chính sách thiết kế ra không ở xa tầm với của doanh nghiệp mà phải đi vào đời sống và thực sự trở thành “cú hích”, một nguồn tài nguyên mà doanh nghiệp lúc nào cũng có thể lấy được để tạo thêm xung lực trong quá trình phát triển.

Ở cấp độ địa phương và khu công nghiệp, theo đánh giá của ông thì việc triển khai chính sách liệu đã đáp ứng được yêu cầu của cơ quan ban hành cũng như của cộng đồng doanh nghiệp chưa?
- Có một điều chúng tôi rất băn khoăn và trăn trở: Các nghị quyết thì rất hay và tạo ra niềm tin rất lớn cho cộng đồng, nhưng nếu ngày qua ngày không đi vào cuộc sống và doanh nghiệp không tiếp cận được thì đâu đó niềm tin sẽ bị suy giảm, và một khi đã suy giảm thì rất khó để lấy lại.
Qua quan sát chúng tôi thấy, mặc dù tốc độ thể chế hóa chính sách rất nhanh và các chính sách cũng được xây dựng với tư duy rất mới, lấy ý kiến doanh nghiệp qua nhiều vòng khác nhau, nhưng trong thực tế vẫn còn không ít vướng mắc. Để thực thi có hiệu quả hơn, Bộ Chính trị và các cơ quan Trung ương đã có những chiến lược rất rõ ràng.
Thứ nhất là chiến lược về phân cấp, phân quyền một cách rõ ràng. Với trên 6.000 thủ tục hành chính, sau khi thống kê thì 44% thủ tục hành chính nằm ở cấp trung ương, trong khi theo chuẩn Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì chỉ từ 10 đến 30%. Phải làm thế nào để chuyển những thủ tục hành chính từ cấp trung ương, bộ ngành về cấp địa phương, là cấp gần và hiểu người dân, doanh nghiệp nhất. Theo đó, cấp tỉnh, cấp xã phường phải giải quyết một cách nhanh chóng những khúc mắc cản trở người dân và doanh nghiệp.
Thứ hai là chuyển đổi số dựa trên cơ sở dữ liệu lớn. Khi có chuyển đổi số và cơ sở dữ liệu lớn thì sẽ tăng tính minh bạch và giải trình của các cơ quan nhà nước, từ đó việc phục vụ doanh nghiệp và người dân sẽ tốt hơn rất nhiều.
Thứ ba là cần phải đánh giá và thúc đẩy được hiệu quả của khu vực công dựa trên chế độ sử dụng nhân tài, thu hút được người tài vào khu vực công, để có được có những sáng kiến, xây dựng được những cơ chế giúp công chức vượt qua được nỗi sợ về những “vùng xám”, có thể giải quyết tốt nhất những nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Còn nếu số hóa, chuẩn hóa mà không có những con người dám dấn thân, dám đặt lợi ích của người dân, doanh nghiệp lên trên hết thì quy trình đó đôi lúc lại trở thành một cái khóa, kìm hãm phát triển, trong khi mỗi một ngày trôi qua, cơ hội của người dân và doanh nghiệp, cơ hội của đất nước lại mất đi.

Trên góc độ là cơ quan nghiên cứu và tư vấn chính sách, Ban Nghiên cứu kinh tế tư nhân đã, đang và có những dự định gì để đóng góp vào quá trình triển khai những chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt là về chuyển đổi xanh?
- Với tư cách là một ban thuộc Hội đồng tư vấn cải cách hành chính của Thủ tướng, bên cạnh những nhiệm vụ liên quan đến cải cách hành chính, phản ánh ý kiến của người dân và doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh đến Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, chúng tôi cũng quan tâm đến câu chuyện hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình phát triển: một là, giải quyết những khó khăn, vướng mắc; hai là có thể tiếp cận được những công nghệ mới theo Nghị quyết 57; ba là có thể tiếp cận được các chính sách của nhà nước liên quan Nghị quyết 68 về doanh nghiệp tiên phong, đào tạo 10.000 giám đốc điều hành (CEO), về chuyển đổi hộ kinh doanh trở thành doanh nghiệp.
Liên quan đến chuyển đổi xanh, chúng tôi luôn là đơn vị cập nhật những thông tin mới nhất từ thị trường quốc tế, từ những đối tác thương mại, sau đó chuyển đổi những ngôn ngữ đó thành ngôn ngữ chính sách để gửi cho các cơ quan quản lý Nhà nước, chuyển thành ngôn ngữ doanh nghiệp với những khuyến nghị cụ thể: làm thế nào để tranh thủ được xu hướng của thế giới, phát huy nội lực để thực hành chuyển đổi xanh, thực hành phát triển bền vững một cách thông minh.
Ở đây tôi nhấn mạnh “một cách thông minh”, tức là có tư duy toàn cầu để nhận thấy được tầm quan trọng của việc chuyển đổi, nhưng đồng thời, việc thực hành cần phải từng bước một và phù hợp với mục đích của từng doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phải phân tích được các yếu tố trọng yếu và tích hợp được mô hình kinh doanh mới, trong đó có yếu tố chuyển đổi xanh hay thực hành ESG vào mô hình kinh doanh của mình, tránh chạy theo phong trào hay coi ESG như “trang sức” để rồi lãng phí nguồn lực, nhất là trong bối cảnh nội lực của doanh nghiệp ta còn thua kém các doanh nghiệp khác trong khu vực hoặc trên thế giới. Cần phải biết “liệu cơm gắp mắm”, rất thông minh và rất thực tế, tránh mơ mộng và những hiểu nhầm về xu hướng, tạo ra những áp lực không đáng có cho doanh nghiệp.

Vốn và nhân lực là 2 trong số những khó khăn nhức nhối nhất đối với doanh nghiệp. Tín dụng xanh có đặc điểm gì khác với tín dụng nói chung và làm thế nào để các doanh nghiệp có thể tiếp cận được nguồn vốn tín dụng xanh một cách thông minh như ông vừa đề cập?
- Như đã phân tích, bất cứ sự chuyển đổi nào cũng cần nguồn lực, trong đó có nguồn lực về vốn. Khi có nguồn tín dụng xanh hỗ trợ, nó sẽ giúp doanh nghiệp có nguồn lực tài chính để có thể chuyển đổi.
Vốn xanh thường là vốn dài hạn, khắc phục được điểm yếu cũng như các khuyết thiếu trong thị trường vốn và trong nền kinh tế. Một thị trường vốn phát triển là thị trường vốn đáp ứng được nhu cầu của tất cả loại hình doanh nghiệp: Khi doanh nghiệp chưa có lãi thì có các quỹ thiên thần; khi cần vốn dài hạn thì có trái phiếu xanh; khi cần vốn ngắn thì có tín dụng. Nền kinh tế Việt Nam dựa quá nhiều vào tín dụng và khi doanh nghiệp phải tính toán chiến lược thì với những nguồn vay chỉ từ 3 đến 6 tháng, hay một năm, nó sẽ hạn chế sự chuyển đổi của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh đó, tín dụng xanh cung cấp cho doanh nghiệp một nguồn vốn dài hạn, đúng mục tiêu của việc chuyển đổi. Một nhầm lẫn mà mọi người thường đưa ra là tín dụng xanh thường rẻ - không phải vậy! Trong thực tế, thậm chí tín dụng xanh có lãi suất khá cao, nhưng nó là dài hạn.
Tuy nhiên, những doanh nghiệp tiếp cận được nguồn trái phiếu xanh, tín dụng xanh đều phải là những doanh nghiệp khá lớn, có báo cáo phát triển bền vững hoặc có thể tuân thủ được những quy định của các nhà đầu tư quốc tế. Điều đó dường như ít dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, bởi vì rất nhiều doanh nghiệp có mô hình kinh doanh có yếu tố xanh, rất nhiều doanh nghiệp cũng chứng minh giảm phát thải để phát triển bền vững, nhưng họ yếu nên không có dữ liệu, không có hệ thống kế toán chuẩn mực và đôi lúc không chứng minh được năng lực của mình. Thường thì các ngân hàng vẫn dựa trên những yếu tố truyền thống như tài sản thế chấp, dòng tiền.

Do đó, cần phải có những hỗ trợ của Nhà nước để nguồn tín dụng quan trọng đó có thể đến và chạm được vào doanh nghiệp. Những chương trình hỗ trợ lãi suất 2% rất quan trọng khi doanh nghiệp có thể tiếp cận được nguồn vốn và được giảm lãi suất để phục vụ cho hoạt động chuyển đổi của mình.
Nhưng lo lắng của chúng tôi là, liệu chính sách đó có thực sự triển khai được trong thực tiễn hay không. Vậy nên, việc thiết kế cơ chế thực thi chính sách là vô cùng quan trọng, làm thế nào để chính sách có thể dễ tiếp cận và nhấn mạnh đến yếu tố hậu kiểm nhiều hơn thay vì tiền kiểm.
Nguồn tín dụng xanh chủ yếu đến từ thị trường quốc tế, vậy liệu có cách nào để doanh nghiệp trong nước có thể tiếp cận những nguồn vốn xanh này không?
- Về trái phiếu xanh, đến hiện tại chỉ đếm trên đầu ngón tay số doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận được. Vừa rồi có Phúc Sinh, nhưng Phúc Sinh là một câu chuyện rất khác khi mà doanh nghiệp thực hành phát triển bền vững ngay từ đầu và họ phải trả giá trong suốt quá trình rất lâu dài mới có thành quả như bây giờ.
Còn về nguồn tín dụng trong nước, đến năm 2025, tổng tín dụng xanh mới chiếm 4,5% trong tổng tín dụng của cả nước. Rõ ràng chúng ta đang thiếu những nguồn vốn xanh và các định chế chưa tìm được tiếng nói chung. Chúng tôi trước đây đã khuyến nghị về một danh mục gọi là Green Taxonomy (phân loại xanh) đã được ban hành theo Quyết định 21, nhưng khi ban hành rồi thì ngân hàng gặp khó khăn vì không có nhân lực và không phải ai cũng hiểu biết được toàn bộ lĩnh vực phức tạp như theo Quyết định; doanh nghiệp cũng chưa sẵn sàng bỏ thời gian và công sức để tiếp cận.
Như vậy, chúng ta có nhu cầu thực tế từ nền kinh tế, có nguồn trái phiếu xanh, có những khoản hỗ trợ quốc tế, cũng có dư địa cho tín dụng xanh nhưng thực tiễn thì chưa triển khai được nhiều.

Có vẻ như các ngân hàng và hệ thống tín dụng đang không mặn mà với câu chuyện tín dụng xanh?
- Qua quá trình tiếp xúc với các ngân hàng thì tôi nhận thấy họ không hẳn là không mặn mà. Một là về chuyên môn, họ lo lắng vì phải chịu trách nhiệm đối với nguồn vốn cho vay. Thứ hai là khi triển khai thì thực tế họ cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận doanh nghiệp, để cung gặp cầu.
Doanh nghiệp thì luôn rất thực tế. Họ chỉ làm khi họ phải chịu áp lực mà không thể né tránh, hoặc khi có những động lực từ chính sách (chính sách hỗ trợ giúp cho họ gia tăng lợi nhuận, hoặc mang lại lợi ích sát sườn). Còn Nhà nước là “bà đỡ” cho doanh nghiệp và điều quan trọng nhất là phải hạ độ cao của chính sách xuống. Bên cạnh ngôn ngữ pháp lý rất hay cần phải có những cơ chế thực thi, cơ chế giám sát thực thi và công cụ thực thi phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước, của doanh nghiệp và hài hòa lợi ích các bên.
Có một nghịch lý là doanh nghiệp vừa và nhỏ muốn chuyển đổi xanh, muốn tiếp cận nguồn tín dụng xanh nhưng năng lực hấp thu của họ lại yếu. Theo ông, cần giải quyết nghịch lý này nên như thế nào?
- Đây là vấn đề mà chúng tôi luôn trăn trở. Ngay cả khi Nghị quyết 68 ra đời thì doanh nghiệp lớn nhìn thấy rất nhiều cơ hội, triển vọng, trong khi đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ lại gặp rất nhiều khó khăn với quá trình chuẩn hóa dữ liệu từ kế toán đến các dữ liệu khác liên quan quản trị. Đối với tín dụng xanh, mặc dù các ngân hàng cũng triển khai nhiều gói nhưng mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp chưa cao khi mà họ còn phải lo chuyện cơm áo gạo tiền hàng ngày, lo kiếm lợi nhuận trước mắt để tồn tại trước khi nghĩ đến câu chuyện dài hạn.
Tôi nghĩ mọi chuyện cần có thời gian. Khi doanh nghiệp đã có nội lực, có tư duy dài hạn, nhận thấy được xu hướng, thấy được lợi thế của người đi tiên phong, và khi tín dụng xanh trở nên dễ tiếp cận hơn đối với doanh nghiệp thì chắc chắn việc đó sẽ được triển khai trong thực tiễn tốt hơn.

Tiêu chí doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hay dự án xanh là những khái niệm quyết định ai sẽ được hưởng ưu đãi về tín dụng xanh và một số ưu đãi về cơ chế chuyển đổi xanh. Theo đánh giá của ông, những tiêu chí định danh đó đã đủ rõ ràng và chặt chẽ để vừa khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi, vừa ngăn ngừa hiện tượng “tẩy xanh” chưa?
- Khi tham gia xây dựng Đề án 1.000 doanh nghiệp tiên phong, chúng tôi cũng đã nghiên cứu về doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học công nghệ, doanh nghiệp startup… và thấy rằng, tỉ lệ được công nhận rất ít. Số doanh nghiệp thực sự tiếp cận được chính sách hỗ trợ rất hạn chế. Điều đó có mấy nguyên nhân:
Một là, tư duy tiền kiểm của chúng ta vẫn rất nặng nề khi đưa ra rất nhiều tiêu chí mà khó có doanh nghiệp nào đáp ứng được. Thứ hai là, quy trình để được công nhận các loại hình doanh nghiệp được liệt kê trên cũng rất khó khăn. Thứ ba là doanh nghiệp sẽ tự hỏi “khi đáp ứng được những tiêu chí đó thì tôi được gì”, và họ so sánh với thời gian, nguồn lực mà họ phải bỏ ra. Bởi vậy nếu hỏi đủ chặt chẽ chưa thì tôi nghĩ nó quá chặt chẽ, chặt chẽ đến mức rất ít doanh nghiệp có thể tiếp cận.
Nên trong việc xây dựng chính sách và hỗ trợ doanh nghiệp thì phải dứt khoát tư duy: Một là, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Hai là, với sự phát triển của hệ thống dữ liệu hiện tại, chúng ta có rất nhiều công cụ để kiểm soát doanh nghiệp có thực sự thực thi hay không, có thực sự phù hợp với những tiêu chí đó hay không, nên cần phải ứng dụng chuyển đổi số trong việc quản trị doanh nghiệp. Ba là, cần phân loại những doanh nghiệp thực hành và tuân thủ tốt để có ứng xử phù hợp, tránh vì một doanh nghiệp có hành vi không đúng mà đối xử với 100 doanh nghiệp khác như vậy.
Tóm lại, để chính sách đi được vào thực tiễn: thứ nhất là dễ tiếp cận, thứ hai là có cơ chế giám sát, đánh giá minh bạch, thứ ba là gắn liền với trách nhiệm của chính quyền các cấp.
Chúng tôi vừa tham gia một số cuộc họp, có rất nhiều chính sách như giảm thuế, khấu trừ thuế cho doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ hay hỗ trợ doanh nghiệp liên quan khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Nhưng cũng có rất nhiều vướng mắc khác nhau, nằm ở chính sách, ở việc thực thi chính sách và ở sự phối hợp giữa các bộ ngành và các bên liên quan. Nên, doanh nghiệp nhiều lúc nhìn thấy chính sách hay nhưng rất khó tiếp cận.

Qua quá trình nghiên cứu, tư vấn chính sách, ông thấy các cơ quan quản lý đang nhìn nhận câu chuyện tiền kiểm và hậu kiểm như thế nào? Liệu cộng đồng doanh nghiệp có thể kỳ vọng vào những chuyển động trong thời gian ngắn sắp tới hay không?
- Thứ nhất, tôi nghĩ mọi sự chuyển đổi đều cần thời gian, nhất là để thay đổi tư duy thì phải có thời gian rất dài.
Thứ hai là cũng cần phải tăng cường kỷ luật công vụ, duy trì kỷ cương để việc xây dựng, ban hành hay thực thi pháp luật có chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) thật rõ ràng.
Thứ ba là đang có một sự chuyển động rất lớn trong khu vực công. Hiện tại nếu quan sát khu vực công thì thấy làm việc áp lực và yêu cầu hiệu quả hơn trước đây. Sự chuyển đổi cách thức quản trị, chuyển đổi từ mô hình chính quyền địa phương ba cấp thành hai cấp, sự chuyển đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, và việc ứng dụng công nghệ thông tin, ứng dụng chuyển đổi số… sẽ làm tăng tính minh bạch, tính trách nhiệm giải trình của đội ngũ công chức. Từ đó doanh nghiệp có thể tiếp cận được các chính sách một cách tốt hơn.
Chỉ khi trong tư duy của công chức có doanh nghiệp, khi quy trình được xây dựng phù hợp với doanh nghiệp và coi sự phát triển doanh nghiệp chính là đóng góp vào sự phát triển của quốc gia thì chúng ta mới có một hệ sinh thái các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp một cách thực chất, hiệu quả và đúng phương châm lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.

Nhìn tổng thể, chuyển đổi xanh còn liên quan đến chất lượng sản phẩm. Doanh nghiệp nhỏ và vừa muốn tham gia vào thị trường thế giới, xuất khẩu sản phẩm thì những yêu cầu đó gần như là cơ bản rồi. Ông nhìn nhận câu chuyện này như thế nào?
- Chúng ta phải nhìn nhận một cách thẳng thắn, rằng rất nhiều thành tựu xuất khẩu hiện tại đến từ khối FDI. Nếu nhìn vào dữ liệu năm 2025, sau khi Hoa Kỳ có thuế đối ứng thì khu vực FDI vẫn xuất khẩu rất tốt, trong khi khu vực doanh nghiệp nội địa thì xuất khẩu suy giảm. Điều đó cho thấy, nội lực của doanh nghiệp trong nước cần phải được tăng cường nhiều hơn nữa thì mới hy vọng có một nền kinh tế khỏe mạnh, lành mạnh, độc lập, tự chủ, tự cường.

Vậy, làm thế nào để có một cộng đồng doanh nghiệp như vậy?
Thứ nhất, phải xây dựng những chính sách kết nối giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI một cách thực chất và hiệu quả hơn. Chúng ta đã có chính sách nhưng sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam trong các chuỗi của Samsung, Apple, Intel… chưa được như kỳ vọng.
Thứ hai, phải kết nối chuỗi giữa các doanh nghiệp nội địa với nhau, trong đó doanh nghiệp lớn dẫn dắt doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp vừa dẫn dắt các doanh nghiệp nhỏ để tạo được một hệ sinh thái doanh nghiệp, một cấu trúc doanh nghiệp thật bền vững.
Bên cạnh những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu, cần phải có những doanh nghiệp vừa có thể đấu nối được với các doanh nghiệp FDI và các chuỗi. Đồng thời cũng cần phải có những doanh nghiệp nhỏ năng động, đặc biệt phù hợp với giai đoạn mọi thứ thay đổi nhanh chóng như hiện tại.
Chúng ta thường dùng hình ảnh “làm tổ cho đại bàng” để nói câu chuyện thu hút FDI, nhưng một nền kinh tế khỏe mạnh thì bên cạnh “đại bàng FDI” còn cần phải có “đại bàng Việt”, và bên cạnh “đại bàng Việt” thì cũng cần phải tạo ra những cánh đồng rộng lớn, nhiều thức ăn để nuôi dưỡng đàn chim sẻ. Điều đó phù hợp với đặc trưng, bản sắc của kinh tế xã hội Việt Nam và tạo ra tính tiếp nối trong cấu trúc doanh nghiệp, để doanh nghiệp nhỏ có thể vươn lớn dần thành những doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp vừa có cơ hội vươn ra toàn cầu, trở thành những doanh nghiệp lớn và những doanh nghiệp lớn có thể trở thành những doanh nghiệp dẫn dắt trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Vậy theo ông, các địa phương cần làm gì để có thể khuyến khích không chỉ “đại bàng” mà cả các “đàn chim sẻ” đến để làm ăn, phát triển và thịnh vượng?
- Thứ nhất là những doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh cần một không gian chính sách phù hợp. Chúng ta đang trong giai đoạn chuẩn hóa về kế toán, về dữ liệu, nhưng làm thế nào để chi phí tuân thủ ở mức thấp, nhờ đó doanh nghiệp có thể cạnh tranh được, phát triển được.
Thứ hai, thủ tục hành chính cần phải được cải cách triệt để để rút ngắn thời gian, làm giảm chi phí tuân thủ của doanh nghiệp.
Thứ ba, trong việc truyền thông chính sách, làm thế nào để người dân và doanh nghiệp hiểu được các chính sách một cách đầy đủ và toàn diện, tránh những lo lắng không đáng về vấn đề thực thi hay sự phối hợp giữa các bên liên quan.
Một cánh đồng mà muốn chim sẻ có thể lớn được thì phải có nhiều thóc, nhiều côn trùng và nhiều cỏ. Như vậy, bên cạnh hiệu quả kinh tế, sự chuẩn hóa, cần phải tính đến tính chất và vai trò của hệ thống doanh nghiệp trong đảm bảo an sinh xã hội, tạo việc làm cho người lao động, để có những thiết kế chính sách phù hợp: Làm thế nào để doanh nghiệp tiếp cận tín dụng một cách dễ nhất, có được nguồn lao động phù hợp với giá cả phải chăng nhất, làm thế nào để chuẩn mực kế toán hay áp lực về thuế không quá nặng nề, và làm thế nào để mọi người dân đều mong muốn khởi nghiệp, thành lập doanh nghiệp, khởi sự kinh doanh. Khi thúc đẩy được tinh thần thì sẽ tạo ra một nguồn lực rất lớn để phát triển quốc gia.
Điều quan trọng nhất của công cuộc Đổi Mới 40 năm trước là giải phóng được nguồn lực về tài nguyên, về lao động, về đất đai, đưa vào phát triển kinh tế. Còn câu chuyện của 20 năm tiếp theo (2025-2045) là giải phóng tiềm lực và trí tuệ của người Việt Nam trong kinh doanh, đổi mới khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và trong việc thực hiện được những khát vọng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Cảm ơn Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) đã đồng hành cùng chương trình.











