DNews
Kinh doanh

Quản lý mã vùng trồng như "sổ đỏ" để tăng tốc xuất khẩu rau quả

(Dân trí) - Cấp mã số vùng trồng đồng loạt không chỉ giúp truy xuất nguồn gốc mà còn là "giấy thông hành" để trái cây Việt Nam thâm nhập sâu vào các thị trường khó tính, hướng tới mốc 10 tỷ USD và hơn nữa.

Trong vòng 5 năm trở lại đây, xuất khẩu rau quả vươn lên mạnh mẽ, đặc biệt là trái cây. Từ một ngành hàng ít người biết đến, nay rau quả đã trở thành ngành xuất khẩu chủ lực và là động lực tăng trưởng mới của nông nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, mục tiêu xuất khẩu 10 tỷ USD trong năm 2026 đang gặp nhiều thách thức trong bối cảnh trong nước lẫn quốc tế.

Để bàn luận về câu chuyện này, phóng viên báo Dân trí có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Vina T&T Group. Ông Tùng đồng thời là Phó Chủ tịch của Hiệp hội Rau quả Việt Nam. 

Tự tin với mục tiêu xuất khẩu 10 tỷ USD rau quả

Thưa ông Tùng, năm 2025 xuất khẩu rau quả của Việt Nam đạt 8,5 tỷ USD, là một trong những mặt hàng chủ lực của ngành nông nghiệp. Năm 2026, ngành đặt ra mục tiêu rất cao là từ 9 đến 10 tỷ USD. Đứng ở góc độ doanh nghiệp và hiệp hội, trong 4 tháng đầu năm, xuất khẩu rau quả đã đạt được những thành quả gì và liệu có đạt được mục tiêu tăng trưởng này không?

- Năm 2025 ngành rau quả đã có một năm ấn tượng khi đạt 8,5 tỷ USD. Trong 4 tháng đầu năm 2026, chúng ta đã xuất khẩu được 2,06 tỷ USD, tăng hơn 22% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là tín hiệu tốt để hy vọng đạt được mục tiêu 10 tỷ USD trong năm nay.

Bên cạnh đó, bưởi của chúng ta đã vào thị trường Úc với lô xuất khẩu đầu tiên hồi tháng 4. Sắp tới, sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, chúng ta đã có nghị định thư xuất khẩu bưởi và chanh sang thị trường Trung Quốc, hứa hẹn mang lại giá trị rất lớn. Những tín hiệu này khiến chúng tôi rất tự tin vào mục tiêu 10 tỷ USD.

Tuy nhiên, song song với đó cũng có những khó khăn cần nhìn nhận và chuẩn chỉnh lại. Vừa qua, có những phản hồi về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ở một số thị trường. Dù tỷ lệ vi phạm rất nhỏ đối với một số loại hàng, nhưng nếu không kiểm soát tốt nguồn gốc vùng trồng và khâu truyền thông, vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng.

Hàng hóa ra khỏi biên giới mang thương hiệu trái cây Việt Nam, không phải của riêng cá nhân hay đơn vị nào. Với tốc độ lan truyền của mạng xã hội hiện nay, chúng ta phải có những phản hồi chính xác, rõ ràng và khoanh vùng kịp thời.

Khó khăn thứ hai đến từ căng thẳng địa chính trị trên thế giới, cụ thể là chiến sự giữa Israel, Mỹ và Iran gây cản trở lớn đến logistics. Việc vận chuyển hàng hóa sang các thị trường xa như châu Âu hay bờ Đông nước Mỹ hiện phải kéo dài thêm 10 đến 15 ngày. Điều này khiến các loại quả không đáp ứng được yêu cầu bảo quản bị tê liệt, trong khi những loại xuất khẩu được lại phải gánh chi phí logistics rất cao. Việc tiếp cận thị trường Trung Đông hiện nay cũng bị hạn chế.

Thêm vào đó, việc xuất khẩu sầu riêng gần đây cũng gặp một số ách tắc về kiểm nghiệm. Các cơ quan nhà nước cần nâng cao năng lực, đầu tư máy móc để đẩy nhanh tốc độ kiểm nghiệm, giúp hàng hóa lưu thông nhanh chóng. Nếu không đủ năng lực kiểm nghiệm trong mùa vụ, hàng hóa sẽ ách tắc, làm giảm giá thành. Dù vậy, với kết quả quý I/2026 đã vượt tăng trưởng 22%, chúng tôi vẫn tự tin đạt con số 10 tỷ USD.

Quản lý mã vùng trồng như sổ đỏ để tăng tốc xuất khẩu rau quả - 1

Nông dân thu hoạch sầu riêng (Ảnh: Huân Trần).

- Từ đầu năm nay đã có một số mặt hàng trái cây mới xuất khẩu ra nước ngoài và tiếp cận được các thị trường mới. Trong thời gian tới, xu hướng này sẽ tiếp diễn như thế nào đối với ngành rau quả Việt Nam?

Vừa qua, chúng ta làm rất tốt việc mở cửa thị trường nhờ sự năng động của các cơ quan bộ ngành, địa phương và doanh nghiệp. Việc mở cửa thị trường sầu riêng vào năm 2022 đã mang lại giá trị hơn 2,7 tỷ USD tại thị trường Trung Quốc trong năm 2025. Quả bưởi xuất sang Mỹ hay New Zealand cũng đang chiếm lĩnh thị trường rất tốt, và giờ đây là thị trường Úc.

Tôi đánh giá rất cao quả bưởi vì thời gian bảo quản lên tới 70 ngày, vùng trồng ổn định và có mùa vụ quanh năm. Nếu quả bưởi chính thức tiến sâu vào thị trường Trung Quốc, giá trị mang lại có thể xấp xỉ 1 tỷ USD.

Để phát triển lợi thế này, chúng ta phải nâng cao năng lực truy xuất nguồn gốc, an toàn vệ sinh thực phẩm và kiểm soát chặt chẽ vật tư đầu vào để vượt qua mọi hàng rào kỹ thuật. Thời gian qua, chúng tôi đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các sở ngành địa phương tổ chức rất nhiều buổi tập huấn nâng cao trình độ canh tác cho bà con nông dân.

Đáng mừng là tư duy của bà con đã thay đổi rất nhiều so với trước năm 2020. Hiện tại, trình độ canh tác và năng lực tiếp cận thị trường của nông dân rất tốt. Chúng ta đã xây dựng được nền tảng xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, Úc, Canada và Trung Quốc. Người tiêu dùng quốc tế sử dụng trái cây Việt Nam thường xuyên và đều đặn, chứng tỏ hàng hóa của chúng ta đã đạt chuẩn thế giới.

- Trong quá trình xuất khẩu, ông có kỷ niệm nào ấn tượng về một mặt hàng lúc đầu người tiêu dùng quốc tế chưa biết đến, nhưng sau quá trình tiếp thị họ lại "ghiền" trái cây Việt Nam không?

Đối với Vina T&T Group, chúng tôi có 3 câu chuyện rất đáng tự hào về việc chinh phục thị trường thế giới.

Thứ nhất là quả dừa. Năm 2017, khi xuất lô dừa đầu tiên sang Mỹ, thị trường lúc đó chủ yếu dùng dừa giống lai của Thái Lan. Ban đầu thị trường khá e ngại, chỉ đi từng container một, nhưng hiện nay mỗi tháng chúng tôi xuất sang Mỹ từ 60 đến 70 container dừa quanh năm. Dừa Việt Nam tiến vào Trung Quốc cũng nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, đẩy giá trị kinh tế lên rất cao; hiện tại giá dừa tại vườn đã là 165.000 đồng/chục.

Câu chuyện thứ hai là thanh nhãn. Nhãn là giống cây rất đặc trưng của vùng sông Hậu. Khi đưa giống thanh nhãn sang Mỹ và Úc, chúng tôi lấy thương hiệu là "King Long" - vua của các loại nhãn. Cứ đến mùa vụ từ tháng 7 đến tháng 10 hàng năm, thị trường lại trông chờ loại nhãn này.

Thứ ba là bưởi da xanh Bến Tre. Năm 2022, khi xuất bưởi sang Mỹ, chỉ sau một tháng chúng ta phải đụng độ bưởi Trung Quốc có giá rẻ và đã quen thuộc ở thị trường. Tuy nhiên, bưởi da xanh đi đúng giống thuần chủng, mang lại hương vị chuẩn, nên đã tạo ra phân khúc cao cấp riêng biệt và cạnh tranh sòng phẳng với hàng Trung Quốc.

Ngoài ra, quả vú sữa cũng là một điển hình thành công. Ban đầu chúng ta phải hướng dẫn cách sử dụng cho thị trường nước ngoài. Giờ đây, bà con nông dân rất giỏi khi áp dụng kỹ thuật rải vụ. Thay vì chỉ có một vụ ngắn quanh dịp Tết, hiện nay vú sữa đã được rải vụ từ tháng 10 năm trước đến tháng 5 năm sau để đáp ứng liên tục nhu cầu thị trường.

Quản lý mã vùng trồng như sổ đỏ để tăng tốc xuất khẩu rau quả - 2

Ông Nguyễn Đình Tùng (Ảnh: Bảo Quyên).

Việt Nam có thể có thương hiệu quốc gia về nông nghiệp

- Thái Lan đã xây dựng thành công hình ảnh "bếp ăn của thế giới". Liệu Việt Nam có đủ cơ sở để xây dựng thương hiệu quốc gia về nông nghiệp, trở thành một "khu vườn thế giới" với chủng loại độc đáo và chất lượng cao để vươn xa hay không?

Xây dựng thương hiệu cho trái cây là mục tiêu mà ngành chúng tôi đeo đuổi từ rất lâu. Trái cây Việt Nam hiện đã đạt kim ngạch xuất khẩu 8,5 tỷ USD và phủ sóng khắp các thị trường khó tính như Mỹ hay EU, nhưng chúng ta vẫn chưa có một thương hiệu quốc gia cụ thể cho ngành rau quả. Hiện tại mới chỉ có chương trình Thương hiệu Quốc gia của Bộ Công Thương dành cho sản phẩm của doanh nghiệp.

Nhìn sang các nước, New Zealand có quả Kiwi xuất khẩu hơn 3,5 tỷ USD, Hàn Quốc có dâu tây và nho mẫu đơn, Mỹ có táo Washington. Dù diện tích nông nghiệp không quá lớn, họ vẫn định vị được thương hiệu trái cây mang tầm quốc gia. Ở Việt Nam, trái cây nào cũng ngon, nhưng chúng ta cần chọn ra một loại hoặc một nhóm quả đại diện. Để khi nhắc đến quả đó, người ta mặc định ngay của Việt Nam là ngon nhất.

Với 8,5 tỷ USD xuất khẩu, giá trị thặng dư thương mại của ngành rau quả mang lại rất lớn (lên tới 80 - 90%). Chúng ta sử dụng lao động, cây giống trong nước và chỉ phải nhập khẩu một phần nhỏ vật tư, phân bón. Do đó, đã đến lúc phải xây dựng một thương hiệu quốc gia cho trái cây Việt Nam để tiếp tục gia tăng giá trị vượt xa con số 10 tỷ USD hiện tại.

- Theo ông, Việt Nam nên định hướng những loại quả nào đầu tiên để xây dựng thương hiệu quốc gia trong giai đoạn sắp tới?

Chúng ta nên tập trung vào những giống thuần chủng của Việt Nam đã vang danh thế giới như sầu riêng Ri6, bưởi da xanh Bến Tre và dừa xiêm Bến Tre. Đây là những loại có giá trị thương mại lớn, vùng trồng rộng, có khả năng canh tác quanh năm và đáp ứng tốt điều kiện bảo quản dài ngày.

Ví dụ, trên thế giới chưa có loại bưởi nào vượt qua được bưởi da xanh Việt Nam về độ ngọt, độ ngon và công nghệ bảo quản lên tới 70-80 ngày để vận chuyển đường biển. Hay đối với sầu riêng, nếu Thái Lan quảng bá giống Monthong thì chúng ta có thể tập trung xây dựng thương hiệu cho giống Ri6. Dừa Thái Lan là dòng dừa dứa, còn Việt Nam có giống dừa xiêm thanh mát đặc trưng. Những sản phẩm này đều rất tốt để xây dựng thương hiệu quốc gia.

- Một thương hiệu quốc gia mạnh sẽ bắt nguồn từ những thương hiệu doanh nghiệp mạnh. Vina T&T Group định hướng thế nào để đảm bảo vùng nguyên liệu chất lượng cao và tiếp cận được thêm nhiều thị trường?

Đối với Vina T&T Group, khi xuất khẩu, chúng tôi luôn đặt thương hiệu vùng trồng và địa danh lên hàng đầu, chứ không chỉ mang thương hiệu doanh nghiệp. Khi xuất khẩu dừa năm 2017, chúng tôi sử dụng tên "Dừa xiêm Bến Tre", hay nhãn hiệu "Bưởi da xanh Bến Tre". Việc này tạo thành một thương hiệu chung trên thị trường, giúp khách hàng nhận diện được địa danh và thổ nhưỡng đặc trưng.

Từ quả trái cây, khách hàng quốc tế sẽ tò mò tìm hiểu về văn hóa, đất nước con người Việt Nam. Hàng năm, Vina T&T Group đón rất nhiều đoàn khách quốc tế, cơ quan báo chí và sinh viên đến tham quan chuỗi liên kết từ vùng trồng đến nhà máy.

Mục tiêu của chúng tôi là mỗi quả, mỗi lô hàng xuất đi đều mang theo uy tín của doanh nghiệp và danh dự của người sản xuất. Nhờ cách làm này và sự ủng hộ của bà con cũng như chính quyền địa phương, chúng tôi đã tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trên thị trường xuất khẩu.

Quản lý mã vùng trồng như sổ đỏ để tăng tốc xuất khẩu rau quả - 3

Cần xây dựng và quản lý vùng trồng trái cây (Ảnh: DN).

Cấp thiết xây dựng và quản lý mã vùng trồng

- Quay trở lại những khó khăn về chất lượng sản phẩm và kiểm nghiệm, đứng ở góc độ doanh nghiệp, ông có đề xuất giải pháp gì để xử lý dứt điểm vấn đề này?

Để xử lý dứt điểm, chúng ta phải quản lý vùng trồng thật tốt. Mỗi lô hàng xuất khẩu đều gắn với mã số vùng trồng. Khi có vấn đề, nếu quản lý tốt, chúng ta khoanh vùng được ngay để chấn chỉnh và có câu trả lời thỏa đáng cho nước nhập khẩu, tránh rủi ro truyền thông lan rộng ảnh hưởng đến hình ảnh toàn ngành.

Việc này đòi hỏi một chuỗi liên kết bền vững, gắn liền lợi ích giữa các bên: từ người cung cấp vật tư, nông dân canh tác, cơ quan nhà nước hướng dẫn kỹ thuật cho đến doanh nghiệp xuất khẩu.

Đặc biệt, tôi kiến nghị Bộ và các địa phương cần chủ động cung cấp mã số vùng trồng cho tất cả bà con nông dân, không nên đợi nông dân hay doanh nghiệp đi xin. Mã số vùng trồng giống như "sổ đỏ" của mảnh vườn.

Hiện tại, số lượng mã vùng trồng được cấp chưa đáp ứng đủ năng lực xuất khẩu. Điều này gây khó khăn cho truy xuất nguồn gốc và làm hạn chế việc đáp ứng quy định của nước sở tại. Cơ sở dữ liệu từ cấp xã lên tỉnh và Bộ đã có, việc cấp mã đồng loạt là giải pháp cần làm ngay.

- Nếu mọi kiến nghị được giải quyết trong 3 đến 5 năm tới, ông hình dung bức tranh ngành trái cây Việt Nam trong 10 năm tới sẽ phát triển ra sao?

Nhu cầu tiêu thụ rau quả của thế giới rất lớn, nhưng hiện Việt Nam mới chỉ chiếm khoảng 1,5% thị phần. Dư địa phát triển còn vô cùng rộng mở. Chúng ta có lợi thế đất đai rộng lớn, mỗi tỉnh có một loại thổ nhưỡng chuyên biệt, cùng với đó là người dân cần cù, giỏi kỹ thuật.

Để phát triển bền vững, chúng ta cần quy hoạch vùng trồng bài bản, không nên chuyển đổi ồ ạt chạy theo phong trào gây mất cân bằng thị trường. Đồng thời, tiếp tục chiến lược mở cửa thêm nhiều thị trường mới.

Hiện nay, công nghệ bảo quản và trình độ canh tác của Việt Nam đã được nâng tầm rõ rệt. Nông dân chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh là có thể cập nhật thị trường, nghe khuyến nông và điều khiển tưới tiêu từ xa. Với nguồn nhân lực trẻ giỏi khoa học công nghệ, tôi tin rằng trong 10 đến 20 năm tới, ngành rau quả sẽ càng bứt phá mạnh mẽ. Việt Nam hoàn toàn có khả năng trở thành một cường quốc xuất khẩu rau quả của thế giới.

- Cảm ơn ông Nguyễn Đình Tùng với những chia sẻ truyền cảm hứng và hy vọng cho ngành nông nghiệp Việt Nam.