Thứ tư, 28/09/2011 - 09:24

Giải quyết mâu thuẫn giữa quy mô, chất lượng, hiệu quả giáo dục

Dân trí

Sự nghiệp GD-ĐT đang có nhiều bất cập, đặc biệt là về quy mô, chất lượng, hiệu quả không những chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước mà còn là nguồn gốc gây nên nhiều bức xúc trong xã hội.

Phải chăng đây là những vấn đề cần sớm giải quyết tạo điều kiện cho đổi mới cơ bản, toàn diện sự nghiệp GD-ĐT của đất nước mà Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra.

 

Về hệ giáo dục đại học [GDĐH]. Nhiệm vụ của hệ GDĐH là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Cái sai lệch lớn trong nhiệm vụ đào tạo này là chú trọng nhiều đến phát triển quy mô hơn là nâng cao chất lượng và hiệu quả. Phát triển mạnh quy mô là rất cần thiết đối với hệ Giáo dục phổ thông [GDPT] trong nhiệm vụ nâng cao dân trí.Thêm một cháu được đến trường là điều rất quý, chất lượng phụ thuộc chính vào nội dung và phương pháp dạy và học. Cơ sở vật chất cho giáo dục còn chưa tốt, sẽ được khắc phục dần theo khả năng tài chính của Nhà nước và nhân dân.Nhưng với quy mô đào tạo nguồn nhân lực thì phải tính toán cẩn thận, nếu không sẽ gây lãng phí và nguy hại về lâu dài.

  

Nhà nước đề ra chỉ tiêu đào tạo đại học phải phấn đấu đạt 450 SV / 10.000 dân vào năm 2020,(bằng với Mỹ,với Anh… ). Vậy có thể ước tính cần phải mở khoảng 1.000 trường ĐH, CĐ, mỗi năm ra trường khoảng 1 triệu kỹ sư, cử nhân.Để thực hiện chỉ tiêu đó, trong hoàn cảnh đang còn thiếu thày, cơ sở vật chất gần như bằng không mà số trường ĐH, CĐ chỉ trong vài năm đã từ 100 được tăng lên tới hơn 400 cùng với đủ mọi hình thức đào tạo khác. Mỗi trường được giao tuyển hàng ngàn SV, 8 điểm thi 3 môn cũng được vét vào để học đại học.

 

Sự nghiệp GD-ĐT nước ta đang vận hành trong nền kinh tế thị trường, nhưng phải nhớ rằng đó là một nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, với định hướng XHCN. Do vậy, mọi chương trình, kế hoạch về giáo dục, đào tạo con người dù thuộc Nhà nước đầu tư hay xã hội hóa cũng đều phải phục vụ cho định hướng ấy với sự quản lý đầy đủ và trách nhiệm cao của Nhà nước.

Tại Đồng bằng Sông Cửu Long  trong vài năm tới cũng sẽ được mở thêm trên 20 trường ĐH, CĐ nữa để đạt 190 SV / 1 vạn dân, dù cho các thày giáo dạy ĐH đang còn phải”chạy sô”, nhiều trường ĐH hiện còn thiếu cả nhà vệ sinh cho sinh viên dùng. Ô hay, nền sản xuất, dịch vụ của họ làm ra 20.000-30.000 USD GDP/ đầu người mỗi năm thì nhu cầu cán bộ Đại học như thế là đúng.Còn GDP của ta khi ấy mới chỉ đạt 2.000 do-la/ đầu người. Vậy thì hàng triệu kỹ sư, cử nhân ra trường mỗi năm sẽ làm gì đây trong hệ thống SX, dịch vụ nhỏ nhoi tương ứng ấy?  Ngay tại nền sản xuất nông lâm nghiệp của ta hiện nay thôi cũng đang thừa nhiều kỹ sư rồi: nông thôn không còn nông trường, HTX nông nghiệp đã giải thể, ruộng đất được giao về hộ gia đình; vùng núi không còn lâm trường, rừng được giao cho dân; biên chế cán bộ quản lý và chuyên môn ở các cấp đã lắp kín, thậm chí còn phải giảm biên chế. Vậy hàng vạn kỹ sư nông lâm nghiệp ra trường mỗi năm sẽ về xin việc ở đâu, ai dùng, ai quản, ai nuôi, chế độ đối với họ thế nào …không ai biết được, và cũng không ai chịu trách nhiệm cả. Sinh viên tốt nghiệp các ngành học chuyên sâu hẹp càng khó xin việc làm hơn.

 

Thực ra, trong nhiều năm qua họ đã bị bỏ mặc đúng với chủ trương của Bô GD-ĐT là “mở rộng đầu vào, thả nổi đầu ra”, tức là chỉ biết tuyển thật nhiều vào trường mà không cần nghĩ tới việc sử dụng họ khi ra trường, không cần biết hiệu quả tiền bạc, công sức của xã hội và gia đình đầu tư cho họ tốn kém, nhọc nhằn ra sao. Nếu có sự điều tra nắm tình hình sinh viên ra trường có việc làm đúng nghề đào tạo một cách khách quan, chắc chắn Nhà nước phải giật mình về hiệu quả đào tạo.Cũng để chạy theo quy mô, ở đâu đó còn đưa ra chủ trương là “đào tạo đáp ứng nhu cầu học tập đại học của dân”; Một số chuyên gia giáo dục còn muốn mở trường nhiều nữa để tiến tới phổ cập ĐH toàn dân (!). Quả thật, với một dân tộc ai cũng muốn để chữ cho con, muốn con có bằng cấp cao, học được cái nghề nhẹ nhàng mà kiếm nhiều tiền [nhưng lại chưa thấy được khó khăn khi xin việc làm trong tình trạng cung đã thừa mà cầu lại đòi hỏi chất lượng rất cao] thì Nhà nước có mở thêm bao nhiêu trừơng ĐH, nhất là ngoại thương , kinh tế,  tài chính kế toán v.v.cũng chưa đáp ứng được nhu cầu đó của dân ta đâu.

 

Mở nhiều trường ĐH như vậy, tuyển sinh lại dễ dãi thì còn mấy ai muốn cho con cháu vào học các Trường trung cấp và dạy nghề nữa, từ đó đã gây nên mất cân đối trong nguồn nhân lực của đất nước, đẻ ra tình trạng thừa thày thiếu thợ; một số trường có ngành học ưa thích  chỉ tiếp nhận những thí sinh thi đạt điểm cao [mặc dầu không nhất thiết phải thế].Ngược lại, một số trường rất cần đào tạo ra những kĩ sư, cử nhân giỏi để đáp ứng nhu cầu phát triển lâu dài và bền vững của đất nước thì rất khó tuyển sinh, chất lượng đầu vào rất thấp. Vậy là chủ trương đáp ứng nhu cầu học tập của dân, của xã hôi chỉ nên thực hiện ở hệ Giáo dục phổ thông và các hình thức đào tạo phi chính quy. Quy mô đào tạo nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH đất nước, kinh phí và chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo từng ngành học của mỗi trường ĐH đều phải dựa vào và đáp ứng NHU CẦU CỦA ĐẤT NƯỚC theo từng giai đoạn phát triển, không để thiếu và cũng không được thừa nhiều mới là đúng hướng; Chất lượng học sinh đầu vào các trường cũng cần phải có giải pháp điều tiết  để chất lượng đầu ra và giá trị bằng cấp tốt nghiệp không có sự chênh lệch lớn giữa các trường ĐH nói chung trong hệ thống giáo dục quốc dân.
 
Giải quyết mâu thuẫn giữa quy mô, chất lượng, hiệu quả giáo dục - 1

(nguồn ảnh: internet)

 

Sự nghiệp GD-ĐT nước ta đang vận hành trong nền kinh tế thị trường, nhưng phải nhớ rằng đó là một nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, với định hướng XHCN. Do vậy, mọi chương trình, kế hoạch về giáo dục, đào tạo con người dù thuộc Nhà nước đầu tư hay xã hội hóa cũng đều phải phục vụ cho định hướng ấy với sự quản lý đầy đủ và trách nhiệm cao của Nhà nước.

 

Bài viết tranh luận của bạn về vấn đề này xin gửi đến Diễn đàn Dân trí qua địa chỉ e-mail: thaolam@dantri.com.vn

Chất lượng đào tạo đại học một số năm gần đây,Việt Nam đã bị xếp vào những nước kém nhất thế giới. Không rõ rồi đây chất lượng hàng triệu kỹ sư, cử nhân ra trường vào những năm tới sẽ còn thấp đến mức nào nữa khi mà nhiều vạn giảng viên, giáo sư, tiến sĩ cũng sẽ được đào tạo gấp rút và phong hàm vội vã cho đủ chỉ tiêu, sĩ số làm Thầy của họ.Những trò của những Thầy ấy khi ra trường chắc chắn sẽ càng không được nơi sử dụng chấp nhận, nếu không được đào tạo lại, họ sẽ không thể cống hiến, thậm chí còn làm hại đất nước đến hết đời. Cũng do coi nhẹ chất lượng, đuổi theo quy mô, gần đây quy chế tuyển sinh ĐH còn thêm điều 33 để vét những thí sinh dưới điểm sàn đưa vào đào tạo đại học với ý [từ thiện] cho vùng sâu,vùng xa [ mà thực ra chỉ là để giúp cho các trường yếu kém tuyển đủ chỉ tiêu được giao]. Xin hãy nhớ rằng ở các vùng đó rất cần có nguồn nhân lực chất lượng cao để giải quyết  những vấn đề đang là hóc búa, chứ đâu có cần “tăng cường” những kỹ sư, cử nhân đào tạo theo tinh thần“ từ thiện”ấy.Đúng ra phải bằng mọi cách, mọi giá giúp nâng cao chất lượng GDPT ở các vùng này nhằm tạo cho được nguồn tuyển tốt tại chỗ mới là việc làm chính đáng của Ngành GD-ĐT.

          

Để có được nguồn nhân chất lượng cao cho đất nước, thiết nghĩ :

 

1-      Nhà nước nên xóa bỏ chỉ tiêu phấn đấu đạt 450SV/ 1 vạn dân, nó không có một ý nghĩa gì ngoài việc làm lý do để tăng quy mô và số lượng trường đào tạo đại học một cách vô tội vạ;

2-      Chỉ tiêu tuyển sinh, ngành nghề học của mỗi trường cũng như kinh phí đào tạo do Nhà nước cấp đều phải tính toán lại và phân bổ hợp lý theo tinh thần giảm mạnh chỉ tiêu đào tạo và số trường ĐH, CĐ xuống còn vừa đủ đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước.

3-       Đối với những trường ĐH, CĐ mới được mở vội vã và những trường còn thiếu điều kiện đào tạo, nên được đầu tư xây dựng thành các trường dạy nghề, trong đó ưu tiên đào tạo các nghề cho nông dân nhằm giảm tỷ lệ lao động không được đào tạo trong nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm nông nghiệp, các nghề phục vụ xây dựng nông thôn mới; hoặc lấy chỗ lập trường Tiểu học, Bệnh viện [mà ngay tại Hà Nôi cũng đang còn thiếu chỗ cho các cháu học, bệnh viện K với 19 bệnh nhân chung nhau 1 giường ] vẫn còn là có ích hơn.

 

Và cũng chỉ có vậy mới nâng cao được suất đầu tư và chất lượng đào tạo đại học tại các trường còn lại từng bước phấn đấu lên ngang tầm với các nước khác trong vùng; chất lượng và kết cấu nguồn nhân lực được nâng cao và hợp lý hơn. Hiện một số trường có thể phải tự giải thể do không đủ điều kiện đào tạo hoặc không có nhu cầu, đó là điều tất yếu và đáng mừng.Tuy nhiên Nhà nước vẫn cần chủ động tính toán, quy hoạch, sắp xếp lại mạng lưới trường ĐH và CĐ cho đúng hơn với nhu cầu phát triển đất nước.  Nếu như kinh phí đào tạo không thay đổi, cũng với tinh thần trách nhiệm cao, không có tiêu cực, sĩ sổ sinh viên giảm còn một nửa hoặc 1/3 thì chất lượng đào tạo chắc chắn sẽ tăng lên gấp đôi, gấp 3. Nếu quy mô đào tạo vừa đủ dùng thì chất lượng và hiệu quả sử dụng sẽ là cao hơn nhiều hiện nay.Với lòng yêu nước, trí thông minh và nguồn nhân lực chất lượng cao ấy, nhất định đất nước ta sẽ có những bước phát triển rõ rệt về mọi mặt.

         

Về giáo dục phổ thông [GDPT]. Hệ GDPT chủ yếu làm nhiệm vụ nâng cao dân trí.Bất cập lớn trong hệ GDPT hiện nay là nội dung và phương pháp dạy và hoc.Tại cấp học nào cũng rất nhiều môn học; mỗi môn đều dày đặc kiến thức, vừa rộng vừa sâu nhưng lại chưa phải là cần thiết; ngành nào, thày nào cũng muốn đưa cái của mình vào chương trình, giáo trình làm cho quyển sách nào cũng dày cộp, các cháu cõng cặp nặng quá sẽ ảnh hưởng đến cột sống là điều đáng lo.

 

Sách vở nhiều, nội dung lớn, thời gian ít, thày trò phải dạy và học qua quýt cho xong, không thể coi trọng cách dạy có suy luận, sáng tạo cho học sinh.Chính vì vậy mà học sinh mang tiếng học hành vất vả, tốn kém nhưng kết quả lại không như ý muốn. Khi thi tốt nghiệp đều được các thày cho qua với tỷ lệ đỗ đạt rất cao, khi dự thi chung nghiêm túc một chút, phần lớn thí sinh đều không đạt điểm trung bình;Về học làm người lại càng yếu kém hơn, học sinh khi ở lớp thường được điểm 9, 10 về môn Công dân, môn Đạo đức, khi ra khỏi lớp không ít cháu nói tục, chửi bậy, đánh nhau; về nhà không biết chào ông bà, cha mẹ, không biết nói lời xin lỗi, cám ơn, chứ đừng nói tới chuyện phải biết yêu quê hương, yêu đất nước, ghi nhớ và thực hiện những điều lớn lao trong sách dày cộp kia rao giảng; Yêu cầu “Học đi đôi với hành”,”Tiên học lễ hậu học văn”…cũng mới chỉ là khẩu hiệu đẹp được treo lên nóc trường, và còn biết bao tiêu cực đang diễn ra một cách phổ biến trong môi trường giáo dục này mà người dân ai cũng biết.. Nếu cứ với nội dung và cách dạy, cách học ấy, đất nước ta sẽ rất hiếm nhân tài, nhiều tội phạm.

         

Trong dịp cải cách, đổi mới đối với hệ GDPT sắp tới, thiết nghĩ nên rút kinh nghiệm của nền giáo dục trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp,  điều kiện dạy và học rất khó khăn, thầy giáo không có nhiều bằng cấp như bây giở và nội dung chương trình phổ thông được gói gọn trong 9 năm, vậy mà nội dung giáo dục được tinh giản và tích hợp như thế nào, cũng như  phương pháp dạy chữ, dạy người thế nào để nền giáo dục ấy đã để lại cho đất nước và chế độ ta nhiều nhân tài mà cho đến nay nhiều người vẫn là cán bộ khoa học đầu đàn của nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ.
 
Cũng cần học tập nhiều nước khác, ở đó trẻ em vừa học vừa chơi, không phải gò lưng học thêm học nếm gì, mà nguồn nhân lực của họ vẫn đáp ứng tốt cho nhu cầu phát triển đất nước và xuất hiện nhiều người tài có những công trình khoa học đạt giải Nô-ben.  

 

Trước nhiều trăn trở về nền giáo dục hiện nay, nhân dân cả nước đang kỳ vọng vào công cuộc “đổi mới căn bản và toàn diện” sự nghiệp GD-ĐT lần này mà Đại hội Đảng XI đã đề ra. Xin hãy coi việc khắc phục những bất cập về quy mô, chất lượng , hiệu quả của GD-ĐT là nhiệm vụ CẦN LÀM NGAY khởi đầu cho công cuộc cải cách, đổi mới lớn lao này ./.

                      

                                                                                 Ngô Thế Tường
Nguyên cán bộ giảng dạy đại học

 

LTS Dân trí- Bài viết trên đây gợi lên một suy nghĩ: phải chăng  nền giáo dục của chúng ta mắc phải căn bệnh đáng quan tâm nhất là duy ý chí, muốn “đi tắt đón đầu” để sớm bằng người, nhưng vốn là nước chậm tiến, không có thực lực, cho nên kết quả là chạy theo số lượng, còn chất lượng giáo dục ngày càng tồi tệ hơn, tụt hậu ngày càng xa hơn so với các nước trong khu vực.

 

Chính vì vậy, chúng ta cần đoạn tuyệt với cách nghĩ và cách làm giáo dục “duy ý chí”, luôn phải xuất phát từ điều kiện thực tế nước ta để xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển giáo dục cho phù hợp với mỗi giai đoạn, bảo đảm sự cân đối giữa số lượng và chất lượng để đạt hiệu quả đầu tư cao nhất.

 

Đấy cũng là bài học kinh nghiệm cho công cuộc “đổi mới căn bản và toàn diện” giáo dục lần này.