Từ vụ UAV xâm nhập trái phép Tân Sơn Nhất: Chế tài xử lý ra sao?

(Dân trí) - Luật sư nhìn nhận việc đưa UAV vào vùng cấm bay như sân bay Tân Sơn Nhất là hành vi vi phạm pháp luật và có thể đối diện các chế tài xử lý, bao gồm cả chế tài hình sự.

Như Dân trí thông tin, chiều tối 11/8, đội ngũ quản lý sân bay Tân Sơn Nhất (TPHCM) tiếp nhận thông tin về việc phương tiện không người lái (UAV) xuất hiện, uy hiếp an toàn bay. Theo đó, lần đầu tiên phát hiện vào lúc 18h10 và lần thứ hai sau đó khoảng 1 giờ. 

Sự việc khiến ít nhất 10 chuyến bay phải chuyển hướng hạ cánh, bao gồm cả chuyến bay từ các nước như Campuchia, Malaysia hay Indonesia. Sau hơn 2 giờ rà soát và xử lý, khi lực lượng chức năng xác định không còn dấu hiệu của UAV, các chuyến bay mới được cất, hạ cánh bình thường. 

Từ vụ UAV xâm nhập trái phép Tân Sơn Nhất: Chế tài xử lý ra sao? - 1

Chuyến bay VN7353 từ Khánh Hòa đi TPHCM phải vòng chờ rồi chuyển hướng hạ cánh tại Cần Thơ (Ảnh: Flightradar24).

Sự việc gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới thời gian, công việc của hàng nghìn hành khác cũng như gây ra những thiệt hại về kinh tế không nhỏ cho các hãng bay. Từ đó, một vấn đề pháp lý được quan tâm là việc người sử dụng thiết bị bay không người lái có thể phải chịu trách nhiệm ra sao? 

Những trường hợp phải xin cấp phép bay

Luật sư Trần Minh Hùng (Trưởng Văn phòng luật sư Gia Đình, Đoàn Luật sư TPHCM) nhìn nhận theo quy định pháp luật, UAV hay các loại drone, máy bay không người lái được xếp vào nhóm tàu bay không người lái, các phương tiện bay siêu nhẹ. Việc sử dụng các loại phương tiện này phải được đăng ký trước khi đưa vào khai thác, sử dụng và phải được cấp phép theo các hướng dẫn tại Luật Phòng không nhân dân 2024 và Nghị định số 288/2025/NĐ-CP của Chính phủ. 

Theo đó, Điều 19 Nghị định số 288/2025/NĐ-CP quy định các điều kiện cơ bản để được khai thác, sử dụng tàu bay không người lái bao gồm phương tiện phải có giấy chứng nhận đăng ký còn hiệu lực; người điều khiển từ đủ 18 tuổi trở lên (trừ trường hợp phương tiện có trọng lượng cất cánh tối đa nhỏ hơn 0,25 kg), trong máu, hơi thở không có nồng độ cồn, ma túy, các chất cấm khác và có giấy phép điều khiển bay quan sát do các cơ quan có thẩm quyền cấp chứng nhận. 

Đối với các khu vực cấm bay, việc cấp phép chỉ được áp dụng đối với trường hợp bay công vụ và phải đáp ứng các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, trật tự bay, trật tự an toàn xã hội. 

Việc cấp phép bay chỉ được miễn trừ đối với trường hợp phương tiện có trọng lượng cất cánh tối đa dưới 0,25kg hoạt động ngoài khu vực cấm, hạn chế bay và phương tiện cứu hộ, cứu nạn trong tình thế cấp thiết. Tuy nhiên, nếu ảnh hưởng đến hoạt động bay quân sự, bay dân dụng thì vẫn phải thông báo tới cơ quan quân sự, công an địa phương và cơ sở điều hành bay trong khu vực. 

Đối với khu vực cảng hàng không, sân bay, đây là những khu vực yêu cầu về an toàn đặc biệt nghiêm ngặt. Điều 34 Luật Phòng không nhân dân 2024 quy định UAV nếu xâm phạm khu vực cảng hàng không, sân bay hoặc khu vực lân cận có hoạt động của tàu bay thuộc trường hợp có thể bị chế áp, tạm giữ.

Từ vụ UAV xâm nhập trái phép Tân Sơn Nhất: Chế tài xử lý ra sao? - 2

Sự việc xảy ra tại sân bay Tân Sơn Nhất không phải lần đầu tiên các loại máy bay không người lái gây ảnh hưởng tới hoạt động bay (Ảnh minh họa: AI).

Xâm phạm vùng cấm bay bị xử lý ra sao? 

Cũng theo dõi sự việc, luật sư Trần Đại Lâm (Công ty Luật ANVI, Đoàn Luật sư TP Hà Nội) đánh giá những giá trị mà UAV mang lại là không thể phủ nhận, nhưng đồng thời việc sử dụng, khai thác bừa bãi, thiếu kiểm soát có thể mang tới những hậu quả khôn lường. Dưới góc độ pháp lý, hành vi sử dụng UAV hay các loại tàu bay không người lái khác trái quy định có thể đối diện những chế tài xử lý theo quy định pháp luật. 

Cụ thể, dưới góc độ hành chính, khoản 6 Điều 8 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định cá nhân thực hiện hoạt động bay khi chưa có phép bay có thể bị phạt tiền 20-30 triệu đồng. Nếu sử dụng UAV cản trở hoặc gây mất an toàn cho phương tiện bay khác thì mức phạt là 30-40 triệu đồng. Đối với tổ chức, mức phạt bằng hai lần mức áp dụng đối với cá nhân.

Thậm chí, trong trường hợp hành vi gây ra hậu quả nghiêm trọng, mà một trong số đó là làm xáo trộn, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động bay của một sân bay quốc tế, trách nhiệm pháp lý có thể sẽ không chỉ dừng lại ở chế tài hành chính. 

Cụ thể, nếu hành vi sử dụng UAV trái phép được xác định là nguyên nhân cản trở hoạt động hàng không và gây hậu quả là thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng trở lên, người vi phạm có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội Cản trở giao thông đường không theo quy định tại Điều 278 Bộ luật Hình sự 2015. 

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc nhiều chuyến bay bị chậm, chuyển hướng hoặc sân bay phải tạm dừng khai thác chưa tự động đồng nghĩa với việc người điều khiển UAV đã phạm tội. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ chứng minh đầy đủ hành vi, hậu quả, quan hệ nhân quả và các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Điều 278 Bộ luật Hình sự 2015.

Từ vụ UAV xâm nhập trái phép Tân Sơn Nhất: Chế tài xử lý ra sao? - 3

Chuyến bay từ Cam Ranh đi TPHCM phải hạ cánh ở sân bay Cần Thơ (Ảnh: Anh Tú).

Về trách nhiệm dân sự, nếu xác định được người điều khiển UAV và chứng minh được hành vi trái pháp luật của họ trực tiếp gây ra sự cố, các hãng hàng không hoặc chủ thể khác bị thiệt hại có thể yêu cầu bồi thường những khoản tổn thất thực tế như chi phí nhiên liệu do bay chờ, chi phí chuyển hướng và hạ cánh tại sân bay dự bị, chi phí khai thác phát sinh, chi phí phục vụ hành khách và các thiệt hại khác có thể chứng minh được.

Tuy nhiên, không thể lấy toàn bộ chi phí phát sinh của tất cả các chuyến bay rồi mặc nhiên buộc người điều khiển UAV phải thanh toán. Trách nhiệm bồi thường phải được xác định trên cơ sở thiệt hại thực tế và quan hệ nhân quả giữa từng khoản thiệt hại với hành vi vi phạm.