Thứ hai, 06/01/2020 - 07:53

Quyền thừa kế được phân chia thế nào giữa con nuôi hợp pháp và con nuôi thực tế?

Dân trí

Việc nhận con nuôi có đăng ký, được pháp luật chấp thuận và nhận con nuôi không cần đăng ký tưởng chừng đơn giản nhưng lại có ý nghĩa trong việc xác định Di sản của một người sau khi chết sẽ phân chia cho ai, ai được hưởng theo hàng, diện thừa kế.

Con nuôi có được quyền chia tài sản thừa kế không? trong trường hợp nào thì việc nhận con nuôi được công nhận là hợp pháp? Báo Dân trí nhận được một số câu hỏi liên quan đến vấn đề này của bạn đọc gửi đến nhờ giải đáp.

Luật sư Quách Thành Lực (Đoàn Luật sư TP.Hà Nội) đã có những phân tích rất cụ thể dưới góc độ pháp lý, bởi trên thực tế, việc nhận con nuôi hợp pháp và không hợp pháp ảnh hướng đến vấn đề: Di sản của một người sau khi chết sẽ phân chia cho ai, ai được hưởng theo hàng, diện thừa kế.

Con nuôi thực tế là tình trạng pháp lý đối với quan hệ cha mẹ, con nuôi có tồn tại tuy nhiên không được đăng ký theo đúng quy định pháp luật của Việt Nam.

Do các yếu tố thuộc về lịch sử giữ nước, xây dựng quy phạm pháp luật từng thời điểm mà việc xác định tình trạng con nuôi thực tế có hợp pháp (nuôi con nuôi có đăng ký, được pháp luật chấp thuận và nuôi con nuôi không cần đăng ký)

Thời điểm Luật hôn nhân gia đình năm 1959: Theo quy định của điều luật này thì “việc nhận nuôi con nuôi phải được Ủy ban hành chính cơ sở nơi trú quán của người nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch” (Điều 24).

Thời điểm Luật hôn nhân gia đình năm 1986: Việc nhận nuôi con nuôi do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người nuôi hoặc con nuôi công nhận và ghi vào sổ hộ tịch. (Điều 37).

Vấn đề con nuôi thực tế trong giai đoạn này đã được xác định thông qua hoạt động xét xử của Tòa án: Điểm a Mục 6 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Luật HN&GĐ năm 1986 quy định: “Những điều kiện về nuôi con nuôi đã được quy định trong các Điều 34, 35, 36, và 37 nhưng trước khi Luật này được ban hành thì những điều kiện đó chưa được quy định đầy đủ. Vì vậy, những việc nuôi con nuôi trước khi ban hành Luật mới vẫn có giá trị pháp lý, trừ những trường hợp nuôi con nuôi trái với mục đích xã hội của việc nuôi con nuôi (như: nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động hoặc để dùng con nuôi vào những hoạt động xấu xa, phạm pháp). Nếu việc nuôi con nuôi trước đây chưa được ghi vào sổ hộ tịch nhưng việc nuôi con nuôi đã được mọi người công nhận và cha mẹ nuôi đã thực hiện nghĩa vụ với con nuôi thì việc nuôi con nuôi vẫn có những hậu quả pháp lý do luật định”.

Theo hướng dẫn trên đây thì cần xác định người con đã coi người nhận nuôi như cha mẹ, người nuôi dưỡng đã coi người dược nuôi dưỡng như con. Hai bên thực hiện đầy đủ các quyền nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc yêu thương nhau.

Trong dân gian, đặc biệt là giai đoạn chiến tranh sơ tán về các vùng quê giữa đứa trẻ nhỏ đã có cha mẹ đẻ và người chủ nhà có hình thành quan hệ tình cảm cha mẹ nuôi nhưng chỉ tồn tại một giai đoạn ngắn, sau này hai bên chỉ xưng gọi với nhau chứ thực tế không cùng chung sống, chăm sóc thực hiện quyền nghĩa vụ cha, mẹ, con thì không có căn cứ xác định đó là quan hệ con nuôi thực tế.

 Đặc biệt nếu có văn bản thừa nhận của người cha, mẹ hoặc về việc mình không có con hoặc xác nhận của chính quyền địa phương về tình trạng cô đơn, không nơi nương tựa thì không thể xác định quan hệ đó là quan hệ con nuôi thực tế.

Như vậy nếu việc nuôi con nuôi hội tụ đủ yếu tố nêu trên và được bắt đầu từ trước ngày Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực (ngày 3 -1- 1987) mà chưa đăng ký, thì việc nuôi con nuôi vẫn có giá trị pháp lý. Tức là quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi vẫn được công nhận.

Từ thời điểm ngày 3 tháng 01 năm 1987 đến điểm Luật hôn nhân gia đình năm 2000 có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2001 thì quan hệ nuôi con nuôi chỉ được pháp luật công nhận khi thực hiện đúng quy định về việc đăng ký nhận nuôi con nuôi theo đúng quy định pháp luật

Tuy nhiên, cần lưu ý quy định tại khoản 1, 2 Điều 50 Luật Nuôi con nuôi 2010 và hướng dẫn tại Điều 23,24,25, 50 Nghị định 19/2011/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 24/2019/NĐ-CP): Điều 50: Điều khoản chuyển tiếp

1. Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

2. a) Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi;

3. b) Đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống;

4. c) Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con.

5. Sau khi được đăng ký, quan hệ nuôi con nuôi quy định tại khoản 1 điều này có giá trị pháp lý kể từ thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi.

Xác định con nuôi thực tế có ý nghĩa trong việc xác định Di sản của một người sau khi chết sẽ phân chia cho ai, ai được hưởng theo hàng, diện thừa kế.

Xin cảm ơn Luật sư!

Khả Vân (thực hiện)