Thứ bảy, 29/01/2011 - 13:20

Ngày xuân mạn đàm về sự thông minh và chỉ số IQ

Dân trí Nhiều người nghe nói về chỉ số IQ, muốn biết chính xác là gì. IQ có hoàn toàn đi từ gen của cha mẹ hay không? Giáo viên hay cha mẹ có quyền nói là trò hay con mình “ngu” hay không?...

Dựa trên một số nghiên cứu của nhiều tác giả như   Jacquard, Gardner, Poirrier, Schiff,... xin cô đọng dưới đây vài điểm chính : định nghĩa, các loại thông minh, trắc nghiệm đo chỉ số thông minh, bình luận về những giới hạn của các chỉ số IQ, thông minh và di truyền,  ...

Khái niệm :

Một cách thông thường ta định nghĩa thông minh là khả năng tìm đúng giải pháp cho bất cứ tình huống khó khăn nào. Một con chuột thông minh là một con chuột tìm được lối ra trong khu vườn đầy đường ra lối vào chằng chịt.

Ý kiến của bạn về vấn đề này xin gửi đến Diễn đàn Dân trí qua địa chỉ e-mail: thaolam@dantri.com.vn

Nếu chi tiết hơn, thì ta sẽ nói đến khả năng trí tuệ giúp ta hiểu các vấn đề, phát biểu có căn cứ lý luận và thực tiễn, từ đó có cách ứng xử và xử lý tốt, ... trong mọi tình huống. Người thông minh thể hiện ở sự tiếp thu nhanh những kiến thức mới, biết vận dụng sáng tạo những điều được học, cho nên học giỏi, dễ thích nghi trong môi trường nghề nghiệp.

Giáo sư Robert Poirrier ở Liège định nghĩa thông minh như khả năng chơi – trong chữ chơi đùa – chơi với mọi tình huống trong xã hội và suốt đường đời vì thông minh có thể tăng trưởng và cũng có thể mất mát. Một em bé thông minh là một em bé biết chơi, dù là chỉ chơi với mấy ngón tay của mình, không cần đồ chơi rắc rối hay đắt tiền. Một nhà nghiên cứu thông minh là một nhà khoa học xem phòng thí nghiệm của mình như  bồn cát của thời thơ ấu và say sưa với khảo cứu, tìm tòi.

Các loại thông minh?

Hiện nay, đại đa số các nhà tâm lý học quan niệm rằng thông minh là một quần thể nhiều  khả năng khác nhau, có cái giỏi, có cái kém, ở mỗi cá nhân.

Cụ thể, Howard Gardner, 1983, đề nghị 7 loại thông minh khác nhau : khả năng ngôn ngữ, khả năng lý luận-toán, khả năng hiển thị không gian, khả năng cử động, khả năng âm nhạc, khả năng liên hệ xã hội, khả năng tự hiểu. Gần đây, ông thêm vào danh sách này khả năng về môi trường và ông đang suy nghĩ về khả năng triết lý,  tự đặt câu hỏi về số phận.

Như thế, một cá nhân có thể giỏi trên một vài bình diện chứ không phải giỏi chung hết. “Nhân vô thập toàn” như kiểu các người xưa nói.

IQ Intellectual Quotient hay chỉ số thông minh.

Một cách ngắn gọn, chỉ số thông minh là hệ số giữa tuổi trí tuệ (theo kết quả của các trắc nghiệm) và tuổi đời,  nhân cho 100.

Một trẻ em 10 tuổi, khi làm trắc nghiệm, đạt được điểm trung bình của hạng tuổi 12 thì IQ của em sẽ là  12 : 10 x 100 kết quả là IQ bằng  120.

Những trắc nghiệm nổi tiếng nhất là trắc nghiệm Binet-Simon gọi là “thang đo thông minh”, dành cho trẻ em, ghi dấu khởi đầu thời kỳ đong đo được của môn Tâm lý học, năm  1904.

Sau đó, năm 1939,  Wechsler đặt ra một thang khác để đo thông minh nơi người lớn - tới 59 tuổi - . Còn  sự mất mát của thông minh là lĩnh vực của bác sĩ thần kinh học.

 

Hiện ta thường dùng hai loại  trắc nghiệm WISC -  Wechler Intelligence Scale for Children và WAIS -  Wechler Adult Intelligence Scale.

Chỉ số IQ đo khả năng trí tuệ của một cá nhân, so sánh với người cùng tuổi. Theo những trắc nghiệm này, cỡ khoảng 90-110 điểm là bình thường, dưới 70 là “ngu đần”, trên 130 điểm là năng khiếu cao hay tiềm năng cao. Nhưng khác với cách đo chiều cao hay cân nặng, chỉ số thông minh được dùng với nhiều dè dặt – đó chỉ là một số đo có giá trị thống kê, có giá trị tương đối vì nhiều lý do, thông minh của một cá nhân còn thay đổi với thời gian, ... -

Gần đây nhất, Gardner đa dạng hóa thang đo và lập ra nhiều thang sinh động để đo các loại thông minh khác nhau. Một chỉ số duy nhất không đủ để thể hiện tất cả khả năng của một người. Nhưng những thang đo này rắc rối,  ngay đến các tâm lý gia cũng chê là khó áp dụng.

Chỉ số thông minh và dân tộc?

Vào các trường Đại học ở Mỹ, ta thấy tỉ lệ sinh viên da vàng đứng đầu bảng mhiều hơn là người bản xứ. Xin đừng vội kết luận là sinh viên Á đông thông minh hơn. Có thể là những sinh viên này được giáo dục gia đình ưu tiên cho học hành, khoa bảng trong khi gia đình các sinh viên khác có những ưu tiên khác chẳng hạn.

Trước đây, nhất là thuở còn các nước đi đô hộ và các thuộc địa, ta còn có thể nói là có những dân tộc thông minh – nhất là dân Á đông, nhì là Âu Mỹ và sau cùng là dân Phi châu – nhưng từ hơn 15 năm nay, hai tác giả Herrstein và Murray đã bác hoàn toàn lập luận ấy vì nó thiếu cơ sở khoa học (không có dân tộc nào đã nghiên cứu chỉ số IQ trên một quần thể đủ lớn để khẳng định tính “đại diện” của kết quả chẳng hạn.)

Chỉ số thông minh và giai cấp xã hội?

Muôn người như một, ở đây, liên hệ giữa IQ và giai cấp xã hội không cần phải minh chứng nữa : trung bình, ở Tây Âu, con của thợ thuyền có IQ kém hơn con của bác sĩ kỹ sư khoảng 9 hay 10 điểm.

Chính vì hiện trạng này mà các nhà khoa học “bối rối” về sự trung thực của các trắc nghiệm đo thông minh.

Thật vậy, các trắc nghiệm IQ không phải chỉ đo khả năng trí tuệ của cá nhân mà còn đo khả năng giúp phát triển của môi trường nơi cá nhân này sinh sống. Mặt khác, dù là có cố gắng để bảo đảm tính phi văn hóa (culture free) các trắc nghiệm này được làm nên bởi những nhà khoa học của tầng lớp giai cấp có học của xã hội nên vẫn một phần nào đó, là “con đẻ” của “giai cấp thống trị”, xa vời hơn cho người thuộc giai cấp khác.

Rốt cuộc, cá nhân thuộc giai cấp cao “thành công” dễ dàng hơn khi làm trắc nghiệm chứ không hẳn là họ thông minh hơn.

Thông minh và di truyền.

Nhiều người nổi tiếng đã không ngần ngại phát biểu rằng “các con tôi thừa hưởng gen về năng khiếu này nọ như về âm nhạc, về toán, về khả năng đỗ Tiến sĩ, ...  của cha mẹ chúng”.

Ở Mỹ, trong những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước, một số bà mẹ đã “mua” tinh trùng của những người có giải Nobel, làm thụ tinh nhân tạo,  để mong con của mình sẽ thông minh. Tội nghiệp cho các ông chồng của những bà này : vô hình trung, họ “bị” vợ xem như là “đần”, bằng cớ là vợ họ tìm tinh trùng của người khác để mang thai. Hơn nữa, được giải Nobel, không có nghĩa là nhà khoa học ấy thông minh mà có thể cái chính là vì họ đã có phương tiện để đi đến nơi đến chốn trong lĩnh vực nghiên cứu của mình. Và họ đầy đam mê để vượt khó khăn : cái đam mê nhiều khi cần hơn cả cái thông minh.

Cũng ở Mỹ, hiện nay, các thiếu nữ có chiều cao, đẹp, tóc vàng, có bằng Đại học về Tâm lý, ... thường được đắt khách mua trứng để giúp các bà mẹ vô sinh. Giá cả có khi lên đến mấy vạn đô la cho mỗi trứng.  Vóc dáng, màu tóc, màu mắt thì có thể di truyền, tôi không chối. Nhưng cái bằng Đại học thì làm sao “ghi” nó  vào “gia tài  gen” của các cô ?

Lật tự điển âm nhạc, ta có thể thấy Jean-Sébastien Bach, đại thụ của âm nhạc cổ điễn Tây phương của thế kỷ thứ 17,  có ba người con cũng là nhạc sĩ đại tài. Mozart cũng là con của một nhạc sư triều đình thời ấy. Như thế là năng khiếu âm nhạc là do di truyền?

Tôi chưa kết luận, nhưng tôi xin thêm hai hay ba nét, cho trường hợp các nhạc sĩ họ Bach : Jean-Sébastien có tất cả là 19 đứa con, một phần sáu các con của ông thành nhạc sĩ thì không có gì là vĩ đại.

Hơn nữa, thấm nhuần trong môi trường đầy âm nhạc, trở thành nhạc sĩ trong hoàn cảnh đó, là hấp thụ hay là bẩm sinh? Là nhờ gen hay nhờ học tập và ảnh hưởng hàng ngày? Đó là chưa nói tới yếu tố tâm lý: con cái hay có khuynh hướng bắt chước cha mẹ và xem cha mẹ như những mẫu mực, “lớn lên con sẽ như Ba hay như Mẹ” . Trường phái phân tâm học gọi đó là đi theo mẫu hay mô hình của cha, mẹ.

Bên ta thì nói “cha nào con nấy”. Nhưng cha nào con nấy là nhờ hấp thụ, dạy dỗ hay nhờ di truyền ?

Một số người nghiêng về sinh vật học và chủ trương “thông minh : đúng là di truyền” Jacques Monod, Nobel Y học năm 1965, cũng đã nêu lên tầm quan trọng của cái gen. Là người đi dạy, có lẽ tôi đã từ chức mất nếu tôi tin rằng thông minh và khả năng của trẻ đã được sắp đặt và “an bài” từ lúc lọt lòng mẹ.  Thế thì giáo dục sẽ không sửa đổi được gì hết. Như vậy trường học thành gần như vô dụng ?

Cực đoan đối ngược lại, những người thiên về  xã hội và văn hóa – kể cả Jean Jacques Rousseau - đã nói “không đâu, trẻ con sinh ra như một cái bàn phẳng, ta muốn vẽ gì thì vẽ lên”. Thế làm sao giải nghĩa được có trẻ thích học toán, có em lại thích văn chương ?

Có nhóm khác lại nói rằng thông minh là do tác hợp giửa di truyền và môi trường. Phân nửa này, phân nửa kia. Nhưng làm sao dám nói thế khi ta không đo và đếm được ?

 

Để ngắn gọn, trước nhất, tôi xin kể nghiên cứu của ông Michel Schiff . Ông Schiff theo dõi hơn ba mươi trẻ, xuất thân từ mẹ là giai cấp thợ thuyền, được giới trí thức nhận nuôi trước bốn tháng tuổi : hai mươi năm sau, các cháu có một quá trình đi học y như thể các cháu là con ruột của cha mẹ nuôi (tựu trung, kết quả tốt hơn con của các tầng lớp khác, vào Đại học nhiều hơn chớ không bỏ ra học nghề, ...).

Như vậy vai trò của môi trường có phải là chủ yếu hay không?

Một nhà di truyền học, Albert Jacquard, ví bộ não ta như một cấu trúc có hơn cả triệu tỉ tế bào – một con số với 14 hay 15 số không - . Mà vốn liếng di truyền của ta chỉ độ hơn một trăm ngàn – một con số với 5 số không - tín hiệu cho cả cơ thể, từ nhóm máu, màu da, chiều cao, ... Như thế làm sao mà di truyền có thể “điều khiển” hay “ra lệnh” một cách hữu hiệu cấu trúc thông minh để truyền lại cho con cái. Chính vì thế, Jacquard quan niệm rằng, khả năng của não, trong đó có thông minh,  thì rất to. Cái khả năng ấy có thành “ hiện thực ” là nhờ môi trường kích thích cho phát triển, tạo cơ hội, “ gây thời thế để ta thành anh hùng” - tiềm năng “ngủ” phải được xã hội “đánh thức” mới phát triển.

Chúng ta được  “cấu tạo sở hữu kiến trúc sẵn để có thể học”,  nói theo François Jacob (cùng giải Nobel năm 1965 với Monod).

Dĩ nhiên, nếu không có tiềm năng sẵn thì môi trường có thuận lợi mấy cũng không làm gì được. Đồng thời, nếu tạo điều kiện tốt nhất để trẻ phát triển thì đại đa số các em đều có  thể thành công trên lĩnh vực trí tuệ. 

Kết luận và ... chuyện riêng ?

Tôi hay hỏi đùa  sinh viên của tôi “em nào không có khả năng chơi piano?” Một số không ngần ngại giơ tay cao lên. Nhưng thật sự, khả năng thì hầu hết các em ấy có, nhưng không ai đặt một bàn phím dương cầm dưới tay các em và sau đó khuyến khích, nâng đỡ các em trong những lúc gian nan mới bắt đầu học. Nghe tôi nói thế, các em vui như vừa khám phá ra một... chân trời mới.

Đối với tôi chỉ số thông minh không quan trọng. Tôi hoàn toàn không biết IQ của tôi và IQ của các con tôi. Tôi đã nuôi dạy các cháu thành người, đó là điều tôi hãnh diện nhất. Ngoài  thông minh trí tuệ và thông minh cảm xúc, tôi xin nhấn mạnh vào thông minh xã hội : một khả năng giúp người với người sống chung cùng nhau trong mối quan hệ tương hỗ và tôn trọng lẫn nhau. Chưa có ai có thể sống một mình, trên một hòn đảo hoang vu. Ông cha ta đã bảo : “thương người như thể thương thân”, âu đó cũng là cách dạy ta nên vun trồng thông minh xã hội.

Nguyễn Huỳnh Mai

Liège - Bỉ

 

LTS Dân trí - Bài viết trên đây thể hiện quan điểm khách quan có căn cứ khoa học và thực tiễn về khái niệm cũng như vai trò của trí thông minh và chỉ số IQ. Mọi người sinh ra đều là những cá thể được thừa hưởng tính di truyền của cha mẹ, ông bà. Tuy nhiên, dù được thừa hưởng gen thông minh của đời trước để lại, nhưng không có môi trường khách quan thuận lợi cũng như thiếu sự tu dưỡng và phấn đầu của bản thân thì cũng khó mà trở thành người có tầm trí tuệ cao cũng như sự thành đạt trong cuộc sống.

Đúng như tác giả bài viết trên đây đã nhấn mạnh, ngoài việc trau dồi để không ngừng nâng cao sự thông minh trí tuệ và thông minh cảm xúc, ngày nay còn phải đặc biệt coi trọng “thông minh xã hội”, một khả năng giúp cho mối quan hệ giữa người với người trở nên thân thiện và có tác dụng tương hỗ. Đấy cũng là một trong “bốn cột trụ” của nền giáo hiện đại: “Học để chung sống” mà UNESCO đã khuyến cáo.