Thứ ba, 14/03/2017 - 13:27

Bài 15:

Hà Nội: Uẩn khúc gì phía sau vụ mua đất làm nhà ở 18 năm vẫn bị bán đấu giá?

Dân trí Là người được thi hành án và đã mua tài sản từ chính cơ quan thi hành án, nhưng sau gần hai thập kỷ quản lý, sử dụng nhà đất đã mua hợp pháp này, ông Mai Công Ích bỗng nhiên nhận được Thông báo thi hành án của Cục THADS thành phố Hà Nội.
 >> Vụ thi hành án kỳ quặc tại quận Ba Đình: Người dân mất nhà trong “tích tắc”?
 >> Vụ thi hành án kỳ quặc tại quận Ba Đình: Cơ quan thi hành án làm thay việc của toà án?
 >> Uỷ ban Tư pháp Quốc hội đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp giải quyết tố cáo Cục trưởng Cục thi hành án Hà Nội

Thông báo thi hành án của Cục THADS thành phố Hà Nội buộc ông phải giao lại nhà đất số 10 Kim Mã (nay là số 194 Kim Mã) để tổ chức lại việc thi hành án dù những người được thi hành án trong vụ việc này không hề có đơn yêu cầu.

Nhận thấy có nhiều khuất tất trong vụ việc, ông Ích đã nhiều lần gửi đơn khiếu nại đến Cục THADS thành phố Hà Nội nhưng cơ quan này không giải quyết mà tổ chức bán đấu giá tài sản một cách khó hiểu.

Như Dân trí đã đưa tin, đơn thư của ông Ích cho biết, liên quan đến việc vay mượn giữa bà Đặng Thị Lâm và ông Ích cùng một số người khác, sau khi đã thỏa thuận được với bà Lâm cùng các chủ nợ của bà Lâm, ông Ích đã trả tiền để mua lại tài sản của bà Lâm là nhà đất tại số 10 Kim Mã (nay là số 194 Kim Mã). Sau khi đã mua, quản lý và sử dụng hơn 18 năm nay, nhà đất trên bỗng nhiên bị Cục THADS TP Hà Nội lại thu hồi để tiến hành kê biên, bán đấu giá.


Việc nộp tiền vào Chi cục Thi hành án quận Ba Đình của ông Ích còn nguyên biên lai đóng dấu đỏ từ năm 1999.

Việc nộp tiền vào Chi cục Thi hành án quận Ba Đình của ông Ích còn nguyên biên lai đóng dấu đỏ từ năm 1999.

Theo ông Ích, quá bức xúc trước sự việc trên, ông liên tục có đơn khiếu nại gửi tới các cơ quan có thẩm quyền khiếu nại về những sai phạm của cơ quan thi hành án nhưng Cục THADS thành phố Hà Nội không giải quyết mà tiếp tục kê biên, cưỡng chế và đã tổ chức bán đấu giá thành nhà đất tại số 194 Kim Mã đồng thời thu tiền của người mua tài sản.

Liên quan tới vấn đề này, Luật sư Nhâm Mạnh Hà - Công ty Luật TNHH Đông Hà Nội cho rằng thoả thuận mua nhà đất của ông Ích cùng bà Lâm, bà Oanh ngày 16/01/1999, dưới sự chứng kiến của Đội THADS quận Ba Đình là không trái quy định pháp luật, không xâm phạm tới quyền lợi hợp pháp của người thứ ba. Do đó, việc cơ quan thi hành án tiếp tục kê biên, bán đấu giá lại nhà đất trên khiến gia đình ông Ích không còn nơi tá túc là không hợp lý, hợp tình, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông Ích, bởi:

Thứ nhất, cơ quan THADS quận Ba Đình vi phạm pháp luật nghiêm trọng khi huỷ kết quả thoả thuận dân sự ngày 16/01/1999:

Quay trở lại thời điểm năm 1998, khi TAND thành phố Hà Nội ban hành Bản án số 50/DSPT trong đó quyết định “Buộc bà Lâm phải trả cho bà Oanh 246 chỉ vàng 98% và 15.283.460 đồng tiền lãi suất tính đến tháng 12/1997”. Căn cứ vào đó, tháng 05/1998, bà Oanh có đơn yêu cầu và cơ quan THA đã có Quyết định thi hành án theo Đơn yêu cầu. Đến tháng 01/1999 thì ông Ích, bà Oanh và bà Lâm cùng thỏa thuận dưới sự chứng kiến và xác nhận của chấp hành viên để bán tài sản là căn nhà số 194 Kim Mã và chủ động thanh toán tiền cho những người được thi hành án.

Việc thỏa thuận giữa ông Ích, bà Lâm và bà Oanh có sự chứng kiến và chấp thuận của Chấp hành viên cơ quan THADS quận Ba Đình, không vi phạm pháp luật, không xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba và không trái đạo đức xã hội. Sau khi thoả thuận thành, ông Ích đã nghiêm túc chấp hành thoả thuận này, nộp tiền mua nhà đất vào cơ quan THADS quận Ba Đình (có phiếu thu). Những người được thi hành án còn lại là bà Lan, ông Giáp, bà Việt và ông Quang không tham gia trực tiếp vào thỏa thuận nhưng đều nhất trí cho ông Ích mua căn nhà của bà Lâm và số tiền đó đã được trả cho chính họ, tất cả đều nhất trí nhận tiền và cho đến nay đều không có bất kỳ khiếu nại, khiếu kiện nào.

Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì, ngày 05/04/2007, Trưởng THADS quận Ba Đình ban hành Quyết định số 602.1/THA hủy toàn bộ kết quả giải quyết tại Biên bản giải quyết THA ngày 16/01/1999 của Chấp hành viên THADS quận Ba Đình (Ông Ích không nhận được quyết định này).

Rõ ràng, thỏa thuận năm 1999 là một giao dịch dân sự hợp pháp giữa ba bên (ông Ích, bà Lâm và bà Oanh) dưới sự chứng kiến của chấp hành viên cơ quan THADS quận Ba Đình và theo quy định của pháp luật thì thẩm quyền tuyên hủy một giao dịch dân sự chỉ có thể là Tòa án. Vậy căn cứ vào đâu để cơ quan THADS quận Ba Đình ban hành Quyết định hủy kết quả thỏa thuận thành giữa bà Lâm, bà Oanh và ông Ích?

Thứ hai, THADS quận Ba Đình căn cứ vào “Công văn số 303-KSTHA” để thu hồi nhà số 10 Kim Mã và tổ chức thi hành án lại là vi phạm quy định pháp luật về THA:

Căn cứ theo quy định tại Điều 45 Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 và Điều 20 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 thì trong quá trình kiểm sát việc thi hành án, Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị với Toà án nhân dân, cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới, chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm trong việc thi hành án, yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ những văn bản, chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật trong việc thi hành án; yêu cầu xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính người vi phạm pháp luật.


Hai quyết định thi hành án theo yêu cầu được Cục thi hành án TP Hà Nội ban hành sau 10 năm khi người dân đã nộp tiền vào cơ quan thi hành án, xây nhà và sinh sống ổn định.

Hai quyết định thi hành án theo yêu cầu được Cục thi hành án TP Hà Nội ban hành sau 10 năm khi người dân đã nộp tiền vào cơ quan thi hành án, xây nhà và sinh sống ổn định.

Trong vụ việc này, ngày 08/10/1999, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình ban hành công văn số 303-KSTHA, trong đó xác định “Việc thi hành án quận Ba Đình thực hiện không đúng nội dung quyết định Bản án, vi phạm trình tự thủ tục thi hành án. Viện kiểm sát yêu cầu thu hồi nhà số 10 Kim Mã để thực hiện đúng nội dung bản án tuyên kê biên đảm bảo thi hành án”. Căn cứ vào đó, ngày 05/04/2007 Trưởng THADS quận Ba Đình ban hành Quyết định số 602/THA hủy toàn bộ kết quả giải quyết tại Biên bản thỏa thuận ngày 16/01/1999 đồng thời ra Thông báo số 05/TB-THA về việc thu hồi nhà số 10 (nay là 194) phố Kim Mã để thi hành các Bản án, Quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật.

Như vậy, theo quy trình trên có thể thấy trong vụ việc này, Công văn số 303 của VKSND quận Ba Đình là một trong những căn cứ để cơ quan THADS quận Ba Đình tiến hành thủ tục thu hồi nhà đất đã bán cho ông Ích và tổ chức thi hành án lại các Bản án, Quyết định đã có từ năm 1998. Việc dựa trên Công văn số 303 để hủy thỏa thuận về việc thi hành án giữa các bên là không có căn cứ bởi: Ở đây, VKSND quận Ba Đình mới chỉ có công văn gửi tới cơ quan thi hành án mà cơ quan thi hành án, chưa có kháng nghị về việc thi hành án mà bản chất của kháng nghị và một công văn (văn bản hành chính) là hoàn toàn khác nhau

Thêm vào đó, như đã phân tích ở trên, thỏa thuận giữa ông Ích, bà Oanh và bà Lâm là một thỏa thuận dân sự hợp pháp, không xâm phạm tới quyền lợi hợp pháp của người thứ ba. Vì vậy, nhận định của VKSND quận Ba Đình tại Công văn 303 là hoàn toàn không có cơ sở. Do đó, việc cơ quan THADS quận Ba Đình căn cứ vào công văn này để tiến hành thu hồi nhà của ông Ích để đảm bảo thi hành án là trái với quy định pháp luật thi hành án, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của công dân.

Thứ ba, Cục THADS thành phố Hà Nội tiếp tục phạm sai lầm khi ban hành những Quyết định THA không có căn cứ:

Tại Quyết định THA số 1185/QĐ.THA-DS và số 1187/QĐ.THA-DS ngày 11/08/2009 của Cục THADS thành phố Hà Nội về việc thi hành án theo đơn yêu cầu buộc bà Lâm phải trả tiền cho ông Ích, bà Oanh là không có căn cứ bởi:

Một là, Quyết định thi hành án theo yêu cầu trước đây dựa trên yêu cầu của người được thi hành án chưa bị hủy bỏ:

Ngày 02/05/1998, bà Oanh có Đơn yêu cầu thi hành án và Trưởng THADS quận Ba Đình đã ra Quyết định thi hành án số 214/THA về việc thi hành án. Sau đó, ngày 16/01/1999, các bên có thỏa thuận về việc ông Ích sẽ mua lại căn nhà số 10 Kim Mã. Kể từ khi có bản thỏa thuận đến nay, theo ông Ích cho biết thì không có bất cứ văn bản nào về việc hủy bỏ Quyết định thi hành án số 214/THA mà chỉ có Quyết định số 602.1/THA ngày 05/4/2007 về việc hủy bỏ kết quả giải quyết tại biên bản giải quyết ngày 16/01/1999 của Chấp hành viên THADS quận Ba Đình (Theo thông tin tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 09/QĐ.GQKN-CTHADS ngày 10/12/2015 của Cục THADS thành phố Hà Nội).


Ông Mai Công Ích tôi đã làm đơn tố cáo ông Lê Quang Tiến - Cục trưởng Cục THADS thành phố Hà Nội và ông Phan Việt Bình, chấp hành viên trong vụ việc.

Ông Mai Công Ích tôi đã làm đơn tố cáo ông Lê Quang Tiến - Cục trưởng Cục THADS thành phố Hà Nội và ông Phan Việt Bình, chấp hành viên trong vụ việc.


Uỷ ban Tư pháp Quốc hội đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp giải quyết tố cáo Cục trưởng Cục thi hành án Hà Nội của người dân.

Uỷ ban Tư pháp Quốc hội đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp giải quyết tố cáo Cục trưởng Cục thi hành án Hà Nội của người dân.

Hai là, không hề có bất cứ Đơn yêu cầu thi hành án nào từ phía các đương sự kể từ thời điểm có sự thoả thuận giữa ông Ích, bà Oanh, bà Lâm về việc bán nhà đất 194 Kim Mã, trước sự cho phép và chứng kiến của Chấp hành viên THADS quận Ba Đình. Cho tới thời điểm có Quyết định số 1185 và Quyết định số 1187 thì thời hiệu thi hành án đã hết, đồng thời cũng hết thời hiệu để yêu cầu thi hành án đối với các Quyết định và Bản án của TAND quận Ba Đình, TAND thành phố Hà Nội vào năm 1998. Trong khi đó, tại hai Quyết định này lại ghi rõ đây là Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu để thi hành khoản nợ của bà Lâm với ông Ích và bà Oanh. Vậy cục THADS thành phố Hà Nội căn cứ vào yêu cầu của ai để ban hành 02 Quyết định thi hành án nói trên?

Thứ tư, cơ quan THADS cố tình kê biên phần diện tích đất chưa xác định được là của người phải thi hành án để tiến hành thi hành án:

Theo quy định của Luật THADS, trước khi tiến hành việc thi hành án, cơ quan thi hành án phải tiến hành thủ tục để xác minh điều kiện thi hành án, theo đó, chấp hành viên thu thập thông tin, tiếp cận, xác định đối tượng mục tiêu cần phải thi hành (tài sản, thu nhập của người phải thi hành án, vật, giấy tờ, nhà phải trả…) và các thông tin khác phục vụ cho quá trình tổ chức thi hành án như: nhân thân, hoàn cảnh gia đình của người phải thi hành án…Đây là hoạt động trung tâm, quan trọng nhất trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự.

Trong vụ việc này, ngày 08/12/2015, Cục THADS TP Hà Nội ra thông báo số 592/TB-CTHA về việc cưỡng chế thi hành án đối với bà Lâm bằng biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng diện tích đất 2,4m2 nằm trong diện tích đất 22,4 m2 của bà Lâm tại số nhà 194 Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, trong Bản án số 50/ DSPT ngày 10/04/1998 của TAND Thành phố Hà Nội xác định diện tích đất của bà Lâm có 20m2 và thực tế thỏa thuận tại thời điểm đó cũng chỉ có 20m2 đất. Sau khi thỏa thuận xong, ông Ích tiếp tục sử dụng và xây nhà, đóng thuế sử dụng đất trên mảnh đất đó gần 20 năm. Nay diện tích đất dôi ra 2,4 m2 so với Bản án. Vậy 2,4m2 đất ở đâu ra? Thuộc quyền sử dụng của ai? Cơ quan thi hành án chưa làm rõ về diện tích trên nhưng đã vội vã xác định đó là diện tích thuộc quyền sử dụng của bà Lâm, tiến hành kê biên, bán đấu giá toàn bộ ngôi nhà là đi ngược lại với quy định về xác minh điều kiện thi hành án theo quy định của Luật THADS.

Với mong muốn giải quyết dứt điểm vụ việc và nhận thấy những sai phạm nghiêm trọng của cán bộ thi hành án, ngày 25/04/2016, ông Ích đã có Đơn tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật của ông Lê Quang Tiến - Cục trưởng Cục THADS TP Hà Nội và ông Phan Việt Bình - Chấp hành viên Cục THADS thành phố Hà Nội gửi tới Thanh Tra Bộ tư pháp, Tổng cục THADS, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Sau khi ông Ích có đơn tố cáo ông Lê Quang Tiến - Cục trưởng Cục Thi hành án TP Hà Nội, Uỷ ban Tư pháp Quốc hội đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, giải quyết.

“Theo nội dung đơn tố cáo, ông Ích cho rằng, thoả thuận thi hành án giữa ông, bà Nguyễn Thị Kim Oanh (người được thi hành án) với người phải thi hành án là bà Đặng Thị Lâm ngày 16/01/1999 do Đội trưởng Đội THADS quận Ba Đình thực hiện, đã được các bên thực hiện xong, cơ quan thi hành án dân sự đã thu tiền và chi trả cho nhiều người, đến ngày 05/4/2007 (sau hơn 08 năm) Trưởng THADS quận Ba Đình lại ra Quyết định số 602.1/THA huỷ biên bản thoả thuận thi hành án nói trên, ông không biết và cũng không được nhận Quyết định 602.1/THA.

Qúa trình giải quyết khiếu nại, ông đã yêu cầu nhưng tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 09/QĐ.GQKN-CTHADS ngày 10/12/2015 của Cục trưởng Cục THADS thành phố Hà Nội và Quyết định giải quyết khiếu nại số 188/QĐ-TCTHADS ngày 03/02/2016 của Tổng cục trưởng Tổng cục THADS Bộ Tư pháp đều không đề cập đến trách nhiệm của cán bộ và cơ quan THADS quận Ba Đình trong việc công nhận và thực hiện thoả thuận thi hành án ngày 19/01/1999, không đề cập đến quyền lợi của ông khi ông đã thực hiện xong biên bản thoả thuận thi hành án ngày 19/01/1999”.

Từ đó, Uỷ ban tư pháp của Quốc hội đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ đạo xem xét, giải quyết vụ việc theo thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật, trả lời đương sự, đồng thời thông báo kết quả giải quyết đến Uỷ ban tư pháp của Quốc hội.

Dân trí sẽ tiếp tục thông tin sự việc đến bạn đọc.

Anh Thế