Hoàn thiện cơ chế đặc thù khai thác khoáng sản cho 5 nhóm công trình
(Dân trí) - Dự thảo luật đề xuất hoàn thiện cơ sở pháp lý áp dụng cơ chế đặc thù về khoáng sản cho dự án đầu tư công, PPP, công trình trọng điểm và nhiệm vụ cấp bách.
Sáng 7/8, thừa ủy quyền Thủ tướng, Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng trình Quốc hội Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất sửa Luật Địa chất và khoáng sản, hoàn thiện cơ sở pháp lý áp dụng cơ chế đặc thù cho hoạt động khai thác khoáng sản phục vụ 5 nhóm công trình, dự án, nhiệm vụ.
Cụ thể, dự thảo bổ sung dẫn chiếu tại khoản 1a Điều 55 đến khoản 1a Điều 53 Luật Địa chất và khoáng sản. Theo báo cáo thẩm tra, thay đổi này nhằm quy định đầy đủ đối tượng được hưởng cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị quyết 66.4/2025 của Chính phủ, tháo gỡ vướng mắc trong cấp phép hoạt động khoáng sản phục vụ các dự án.

Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng (Ảnh: Media QH).
Năm nhóm công trình được áp dụng cơ chế đặc thù
Theo Nghị quyết 66.4, việc khai thác khoáng sản nhóm IV để cung cấp vật liệu được áp dụng cơ chế đặc thù với 5 nhóm công trình, dự án, nhiệm vụ.
Nhóm thứ nhất là các dự án đầu tư công. Thứ hai là dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP). Thứ ba gồm công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia.
Nhóm thứ tư là công trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội thuộc thẩm quyền chấp thuận hoặc quyết định chủ trương đầu tư của chính quyền địa phương. Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định áp dụng cơ chế đặc thù đối với dự án thuộc nhóm này.
Nhóm cuối cùng gồm công trình xây dựng khẩn cấp, nhiệm vụ cấp bách và dự án, công trình phòng, chống thiên tai.
Theo cơ chế này, hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản nhóm IV để cung cấp vật liệu cho các công trình trên được giảm một số thủ tục.
Dự án khai thác không phải thực hiện thủ tục quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư, phê duyệt dự án đầu tư; không phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hàng năm hoặc làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, trừ trường hợp sử dụng đất quốc phòng, an ninh.
Một số thủ tục về thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường và đăng ký môi trường cũng không phải thực hiện.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh được cấp giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản cho nhà thầu, nhà đầu tư thi công hoặc tổ chức, cá nhân đáp ứng điều kiện. Khoáng sản khai thác theo cơ chế đặc thù chỉ được sử dụng cho các công trình, dự án, nhiệm vụ thuộc phạm vi áp dụng.
Tổ chức, cá nhân khai thác vẫn phải thống kê, kiểm kê trữ lượng, thực hiện nghĩa vụ tài chính và bảo đảm yêu cầu về an toàn kỹ thuật, bảo vệ môi trường.
Cơ chế hiện hành còn cho phép gia hạn giấy phép nếu mỏ còn trữ lượng hoặc điều chỉnh giấy phép để nâng công suất khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu vật liệu. Công suất khai thác cát, sỏi lòng sông và cửa biển được nâng không quá 50%; khoáng sản nhóm III còn lại và nhóm IV không bị giới hạn mức tăng. Việc nâng công suất phải dừng sau khi đã cung cấp đủ vật liệu cho công trình, dự án.
Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết cơ quan thẩm tra cơ bản thống nhất việc bổ sung quy định trên.

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải (Ảnh: Media QH).
Ủy ban nhận định việc sửa luật sẽ giúp luật hóa đầy đủ cơ chế đặc thù cho 5 nhóm công trình tại Nghị quyết 66.4, tháo gỡ vướng mắc trong cấp phép hoạt động khoáng sản phục vụ các công trình, dự án đặc thù.
Tuy nhiên, đây là nội dung nằm ngoài Nghị quyết 66.19/2026 của Chính phủ về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và cũng là vấn đề Chính phủ xin ý kiến Quốc hội.
Cơ quan thẩm tra đề nghị Quốc hội tập trung cho ý kiến về việc bổ sung nội dung này vào dự án luật. Dự thảo dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/1/2027.
Ngoài nội dung về khoáng sản, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng cho biết dự án luật còn sửa đổi các quy định liên quan đến trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật, chăn nuôi, thú y, thủy sản, tài nguyên nước, thủy lợi, khí tượng thủy văn và đê điều. Các thay đổi tập trung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và tăng phân quyền cho địa phương.
Một số đề xuất đáng chú ý gồm cho phép tổ chức, cá nhân tự công bố lưu hành giống cây trồng và thông tin sản phẩm thức ăn chăn nuôi; kéo dài thời hạn giấy đăng ký thuốc bảo vệ thực vật từ 5 lên 10 năm; quy định giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật không có thời hạn; bãi bỏ điều kiện và giấy chứng nhận đối với cơ sở đóng mới, cải hoán tàu cá.
Dự thảo cũng chuyển hoạt động tác động vào thời tiết từ cơ chế thẩm định, phê duyệt sang thông báo kế hoạch; phân quyền thêm cho cấp tỉnh trong kiểm dịch thú y và một số thủ tục quản lý chuyên ngành.