Bộ Y tế: 35.000 ca tai biến thẩm mỹ mỗi năm, nhiều nơi làm đẹp “chui”
(Dân trí) - Theo ước tính, quy mô thị trường làm đẹp tại Việt Nam đã đạt hàng tỷ USD, nhưng mỗi năm cũng ghi nhận 25.000-35.000 ca biến chứng thẩm mỹ, gây hậu quả nặng nề.
Cần nhìn nhận thẳng thắn về cơ sở thẩm mỹ "chui"
Tại hội thảo "Thẩm mỹ an toàn: Từ pháp lý đến thực hành y khoa", do báo Tiền Phong tổ chức ngày 12/5, BSCKII Đào Văn Sinh, Trưởng đại diện Văn phòng Bộ Y tế tại TPHCM cho biết, ước tính, quy mô thị trường làm đẹp tại Việt Nam đã đạt hàng tỷ USD và tiếp tục tăng trưởng ở mức hai con số mỗi năm.
Đây là tín hiệu phản ánh sự phát triển của xã hội và nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Nhưng đi cùng với sự phát triển đó là những vấn đề đáng lo ngại. Theo các báo cáo chuyên ngành, mỗi năm Việt Nam ghi nhận 25.000-35.000 ca biến chứng liên quan đến thẩm mỹ.

Chuyên gia chia sẻ thực trạng biến chứng thẩm mỹ ở Việt Nam (Ảnh: Hoàng Lê).
Đáng chú ý, nhiều trường hợp tai biến xảy ra tại các cơ sở không được cấp phép, hoặc do người thực hiện không có chuyên môn y khoa. Những hậu quả không chỉ dừng lại ở tổn thương sức khỏe, mà còn ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý, kinh tế của người dân, thậm chí có trường hợp để lại di chứng suốt đời.
Theo ông Sinh, có một vấn đề cần nhìn nhận thẳng thắn. Đó là sự tồn tại của các cơ sở thẩm mỹ hoạt động "chui", núp bóng dưới danh nghĩa chăm sóc sắc đẹp nhưng lại thực hiện các thủ thuật xâm lấn.
Đây không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật mà còn là mối nguy trực tiếp đối với sức khỏe cộng đồng, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín chung của ngành y tế.

Một trường hợp căng chỉ mũi thẩm mỹ ở TPHCM (Ảnh: BS).
Xác định rõ việc phát triển ngành thẩm mỹ phải đi đôi với đảm bảo an toàn và tuân thủ pháp luật, Bộ Y tế đang tiếp tục triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.
Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý, rà soát và cập nhật các quy định liên quan đến cấp phép, hành nghề và quản lý hoạt động thẩm mỹ, đảm bảo phù hợp với thực tiễn.
Thứ hai, tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm, đặc biệt là các cơ sở hoạt động không phép, quảng cáo sai sự thật, hoặc vượt quá phạm vi chuyên môn được cấp phép.
Thứ ba, nâng cao chuẩn chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ bác sĩ.
Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông và nâng cao nhận thức cộng đồng, giúp người dân hiểu đúng về dịch vụ thẩm mỹ, biết lựa chọn cơ sở uy tín và không chạy theo những quảng cáo thiếu kiểm chứng.
Phẫu thuật thẩm mỹ luôn tồn tại nguy cơ biến chứng
Trao đổi tại hội thảo, BSCKI Thái Như Ngọc, chuyên khoa da liễu chia sẻ, tại hệ thống thẩm mỹ nơi cô làm việc từng ghi nhận nhiều trường hợp bị các biến chứng sau khi tiêm filler/botox trôi nổi như vón cục, nhiễm trùng hay tắc mạch.
Như trường hợp một chàng trai 24 tuổi (ngụ TPHCM), mong có "đôi tai Phật" cho hợp phong thủy nên nhờ nhân viên spa mua filler hơn 1 triệu đồng về tiêm tại nhà. Một ngày sau, dái tai của bệnh nhân đau nhức, căng cứng, phải đi cấp cứu trong trường hợp hoại tử dái tai.
"Đó là ca may mắn. Nhiều trường hợp khác sau khi tiêm filler vùng mũi, vùng giữa hai chân mày gặp biến chứng nặng không thể cứu vãn. Chỉ một mũi kim sai vị trí có thể gây mù mắt, thậm chí đột quỵ.
Có 4 nguyên nhân gây ra tình trạng này, bao gồm: người thực hiện không có chuyên môn, cơ sở không phép; sản phẩm trôi nổi; kỹ thuật sai", BSCKI Thái Như Ngọc chia sẻ.

Các bác sĩ phẫu thuật giải cứu bệnh nhân gặp biến chứng sau khi tiêm filler mông (Ảnh: BV).
PGS.TS.BSCKII Lê Hành, Chủ tịch Hội Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ Việt Nam khẳng định, phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ là một chuyên ngành ngoại khoa đúng nghĩa. Và đã là ngoại khoa thì luôn tồn tại nguy cơ biến chứng.
Các bệnh viện lớn hiện tiếp nhận rất nhiều ca tai biến từ các cơ sở thẩm mỹ bên ngoài chuyển tới, với mức độ ngày càng phức tạp. Có những trường hợp bị nhiễm trùng, hoại tử nặng, thậm chí bệnh nhân phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật kéo dài nhiều năm chỉ để khắc phục hậu quả của một lần làm đẹp.
Các chuyên gia nhấn mạnh, để một ca phẫu thuật thẩm mỹ diễn ra an toàn, cần hội đủ nhiều điều kiện.
Đó là bác sĩ phải được đào tạo bài bản; bệnh nhân phải được thăm khám, đánh giá đầy đủ; kỹ thuật thực hiện phải đúng chuyên môn; cơ sở vật chất đạt chuẩn. Đồng thời, cần phải có hệ thống quản lý, giám sát hiệu quả.





